Lịch sử Việt Nam

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh soi sáng quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên phương diện quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh đã nêu một mẫu mực điển hình phấn đấu cho sự phát triển tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc, kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, trong đó sự đóng góp to lớn của Người đối với sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam và Lào là một biểu hiện sinh động nhất.

Xem chi tiết


Tiến sĩ Tạ Tương, một trí thức xứ Quảng

Tiến sĩ Tạ Tương (謝瓖) sinh năm Đinh tỵ (1857) , ông người làng Chánh Lộ, nay thuộc phường Nghĩa Lộ, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Làng Chánh Lộ năm 1813 là xã Cù Mông , tổng Trung, huyện Chương Nghĩa, phủ Tư Nghĩa, trấn Quảng Ngãi. Năm 1876 là xã Chánh Mông , tổng Nghĩa Điền, huyện Chương Nghĩa, phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1905 là làng Chánh Lộ , tổng Nghĩa Điền, huyện Chương Nghĩa, phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Tạ Tương là một trong 5 người đỗ tiến sĩ ở Quảng Ngãi thời nhà Nguyễn, đó là: Trương Đăng Trinh (đỗ tam giáp năm 1842), Kiều Lâm (đỗ tam giáp năm 1862), Tạ Tương (đỗ tam giáp năm 1892), Đỗ Quân (đỗ tam giáp năm 1895), Lê Ngải (đỗ tam giáp năm 1901). Tiến sĩ Tạ Tương xuất thân từ một dòng họ khoa bảng ở Quảng Ngãi với nhiều đời đỗ đạt. Cha ông là cử nhân Tạ Tuyên - đỗ cử nhân khoa thi hương năm Tân dậu ở trường thi Thừa Thiên (năm 1861) , con ông là cử nhân Tạ Hàm - đỗ giải nguyên khoa thi hương năm Canh tý ở trường thi Bình Định (năm 1900)


Triều đình và chính sự Chân Lạp, thế kỷ XVII -XVIII

Ở các thế kỷ XVII – XVIII, Chân Lạp bên ngoài là nơi diễn ra cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giữa hai vương triều Xiêm – Việt, bên trong lại xảy ra tranh chấp ngôi vua của phe thân Việt và phái thân Xiêm, giữa dòng chính và dòng thứ của quốc vương. Những sự kiện này được Sử Cao Miên, sử triều Nguyễn, các tác giả trong và ngoài nước ghi chép. Bài viết này là phần đầu, trình bày các sự kiện ở thế kỷ XVII tại triều đình Chân Lạp.


Thờ cúng tổ tiên trong gia đình người Việt ở Tây Ninh

Thờ cúng là một đạo lý truyền thống của dân tộc có từ ngàn xa, khi con người ý niệm được bổn phận. Trong đó, “thờ” nghĩa là thể hiện, tỏ bày sự tôn kính lên tiền nhân mà mình đã dâng trọn niềm tin ; “cúng” là hiến tế, dâng lễ vật lên các đấng siêu linh, cho người đã khuất, mang tính lễ nghi . Thờ và cúng là hai yếu tố tác động qua lại, thống nhất với nhau.


Nhà Bè đi lên đô thị từ di sản truyền thống

Câu ca dao diễn tả hình ảnh những đoàn lưu dân từ miền ngoài vào vùng đất hứa Gia Định vào thế kỷ cuối thế kỷ XVII và Nhà Bè là điểm dừng chân trên hành trình ấy, nơi ngả ba sông (nay là Đèn Đỏ, gần cầu Phú Mỹ). Sự tích Thủ Huồng (Võ Thủ Hoằng) cất nhà bè trên sông để giúp đỡ những người qua nơi đây gặp khó khăn phản ánh tâm thức sông nước của cư dân khẩn hoang vào buổi ban đầu, nó đã trở thành tên gọi của vùng đất lịch sử này.


Miếu công thần thời Nguyễn

Nếu Qui Nhơn (Bình Định) là đất khởi nghiệp của anh em nhà Tây Sơn thì đối với người kế truyền họ Nguyễn, “Đất Phú Yên là nơi đứng mũi chống giặc [Tây Sơn]…” . Bởi vậy, chiến tranh đã diễn ra thực sự khốc liệt nơi đây, chà đi xát lại từng ngày, trở thành tiêu điểm tranh chấp tái lặp liên tục qua từng đợt chiến dịch hay mỗi chu kỳ mùa gió. Oan linh binh tướng vất vưởng khắp nơi, trở thành mối bận tâm và cũng là sự tri ân trước tiên đối với bên thắng cuộc. Ít nhất đã có ba ngôi miếu công thần được dựng lên ngay tại nơi phân ranh chiến tuyến giữa hai dinh/trấn miền Nam Trung Kỳ đầy rẫy bi thương và khốn khó này. Nhân 220 năm khai mở Nguyễn triều bởi hoàng đế Gia Long (1802 - 2022), bài viết tái hiện một vài diễn tiết vào thời khắc kết thúc cục diện tương tranh có lẽ bạo liệt nhất trong lịch sử nội chiến Việt Nam].


Đông Nam Bộ trong lịch sử Phù Nam và Chân Lạp

Bước vào thiên niên kỷ mới sau công nguyên, trong suốt 16 thế kỷ, vùng đất phía nam bán đảo Đông Dương diễn ra nhiều diễn biến lịch sử sinh động và phức tạp. Đầu tiên là sự hình thành nhà nước Phù Nam trên nền tảng văn hóa Óc Eo. Thể chế biển (Maritime polity) này đã đạt đến sự phát triển đỉnh cao từ hải thương và nông nghiệp trồng lúa. Đến thế kỷ thứ VII, Phù Nam sụp đổ, Chân Lạp thay quyền bá chủ, phát triển sinh động với đỉnh cao là nền văn minh Angkor rực rỡ. Với những thành tựu khoa học trong nghiên cứu về văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, lịch sử vùng đất Nam Bộ, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ) đã được làm sáng tỏ nhất định. Nhưng lịch sử vùng Đông Nam Bộ vẫn còn nhiều vấn đề học thuật liên quan chưa có câu trả lời thích đáng. Đông Nam Bộ có vị trí ra sao trong toàn bộ thể chế nhà nước Phù Nam, Chân Lạp là điều cần xem xét khi tìm hiểu về xã hội Đông Nam Bộ thời kỳ này


"Đặc nhượng công sản” ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp

“Đặc nhượng công sản” là cụm từ xuất phát từ “concession”. Cụm từ này, chỉ mới xuất hiện gần đây với tư cách là một khái niệm lịch sử. Theo “Petit dictionnaire Français-Annamite” của Trương Vĩnh Ký, từ “concession” có nghĩa là sự cho (ban). Trong “Hán Việt từ điển giản yếu” của Đào Duy Anh, “concession” được dịch là nhượng địa (讓 地). Và còn có trường hợp, cũng được dịch là “đồn điền”. Về nội hàm “đặc nhượng công sản” là chính sách cho phép khẩn nhượng ruộng đất hoang của nhà nước. Tuy cách thức tiến hành có đôi chút khác so với chính sách khai khẩn ở những giai đoạn lịch sử trước nhưng về bản chất nó vẫn là chính sách về khai khẩn ruộng đất và thực tế là như thế.

Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương