Kiến thức lịch sử chung

TRƯƠNG VĨNH KÝ VỚI CÁC TẬP KỶ YẾU CỦA ỦY BAN NÔNG CÔNG NAM KỲ

Trước khi chiếm cứ toàn bộ lục tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp đã từng bước ổn định chính quyền cai trị để vừa tiếp tục công cuộc chinh phục vừa tiến hành khai hóa thuộc địa. Ngày 16.6.1865, Đô - Thống đốc De La Grandière đứng ra thành lập Ủy ban Nông Công nghiệp Nam Kỳ, tập hợp những chuyên gia trí thức và khoa học, đồng thời xuất bản ấn phẩm dưới hình thức tập kỷ yếu, gọi là Le Bulletin du Comité agricole et industriel de la Cochinchine française/BCAI, cũng như tổ chức các cuộc đấu xảo hàng năm. Mục đích của kỷ yếu là để đăng tải các biên bản hay báo cáo của Ủy ban cùng những bài nghiên cứu liên quan đến hai lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp. Tập kỷ yếu chỉ được phát hành khi biên tập đủ số lượng bài viết và in tại Nhà in Hoàng Gia (l’Imprimerie Impériale). Ấn phẩm này đình bản năm 1881 để rồi tái bản vào năm 1888 khi Ủy ban được thành lập tại Bắc Kỳ.

Xem chi tiết


PHƯỚC LƯU CỔ TỰ

Trong quá trình khai phá vùng đất Tây Ninh đến giữa thế kỷ XIX, đã có nhiều lưu dân đến định cư. Trong đó, Trảng Bàng là vùng đất được khai phá sớm nhất trong tỉnh. Là một vùng đất đa văn hóa, nơi hội tụ của nhiều tộc người, Trảng Bàng đã mang trong mình những nét tập tục đa dạng và phong phú về đời sống, sinh hoạt của các tộc người.


SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO THIÊN CHÚA Ở CÙ LAO TÂY

Cù Lao Tây (Tê châu) nằm giữa sông Tiền, một nhánh của sông Cửu Long (Bảo Giang) cách Cù lao Giêng (Dinh Châu) khoảng 10 km về phía thượng nguồn. Khi xưa, lưu dân miền ngoài vào đây khai phá thành lập thôn Tân Hưng. Di tích bảo lưu là ngôi đình của thôn (Nay thuộc xã Tân Long-Thanh Bình-Đồng Tháp).


SAINT PAUL THÀNH CHARTRES – DÒNG NGOẠI QUỐC ĐẦU TIÊN Ở SÀI GÒN

Cuối năm 1859, Đức cha Dominique Lefèbvre, vị Giám mục tiên khởi của Sài Gòn gửi thư cho Mẹ Révérend Benjamin, bề trên dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Paul thành Chartres) tại Hồng Kông, xin gửi 6 nữ tu đến Sài Gòn giúp các giáo sĩ trong việc mục vụ truyền giáo tại lục tỉnh Nam kỳ. Ngày 7/05/1860, Mẹ Benjamin gửi hai chị Marie de la Nativité và Saint Lizier đến Sài Gòn trên một con tàu buôn. Con tàu cập bến Sài Gòn vào ngày 29/5/1860. Đây chính là những nữ tu ngoại quốc đầu tiên có mặt ở Sài Gòn.


Ý NGHĨA TÂM LINH CỦA HỌA TIẾT MỸ THUẬT CỔ TRONG MỘT SỐ ĐÌNH THẦN Ở BÌNH DƯƠNG

“Đình” vốn là một nhà công cộng để nghỉ chân (Đình trạm). Đến đầu triều Trần, một số nhà nghỉ chân ấy còn được dùng làm nơi thờ phật, đồng thời vẫn giữ chức năng cũ. “Dưới thời Trần đạo phật còn đóng vai trò như một quốc giáo, đến thời Lê Trung Hưng, thì sự có mặt của nhân vật gọi là “thành hoàng” trong một số đình làng là điều chắc chắc (nội dung văn bia đình An Khê ở Bắc Giang)” [4, tr.6]. Và theo các nhà nghiên cứu, GS. TS. Trần Lâm Biên, GS. TS. Nguyễn Chí Bền, TS Lê Văn Sửu, Huỳnh Ngọc Trảng... đã nhận định rằng: Đình là sản phẩm của thời kỳ lịch sử, là con đẻ của một thời kỳ “thai nghén” mang tính chất chuyển đổi từ chế độ quân chủ chuyên chế Phật giáo sang chế độ quân chủ chuyên chế Nho giáo. Đình tham gia vào nhịp thở tư tưởng của “thời kỳ quá độ”, giai đoạn sang trang của nghệ thuật tạo hình dân tộc.


VÙNG ĐẤT “TRÊN CƠM DƯỚI CÁ”

Xưa kia miền Tây Nam bộ được mệnh danh là vùng “trên cơm dưới cá” nhờ hệ thống sông Tiền và sông Hậu đấu nối với “vựa cá Biển Hồ” cùng với hệ thống kinh, mương, rạch, ngòi,….chằng chịch nên nguồn lợi thủy sản nhiều vô số kể! Nên có câu ca dao: “Ba phen quạ nói với diều Cù lao Ông Chưởng còn nhiều cá tôm” Hoặc: “Gió đưa, gió đẩy về rẩy ăn còng Về sông ăn cá, về đồng ăn cua” Do vậy nguồn lợi thủy sản (Xưa kia gọi là “thủy lợi”) là rất quan trọng không kém gì việc sản xuất nông nghiệp. Dân gian gọi nghề đánh bắt thủy sản là nghề “hạ bạc” (Tức nghề sống dưới nước).


NƯỚC MẮM VIỆT QUA CẢM NHẬN CỦA NGƯỜI PHƯƠNG TÂY THẾ KỶ XVII – XVIII

Trong ẩm thực truyền thống của người Việt, nếu như lúa gạo thể hiện rõ nét nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, thì cá, thịt phản ánh loại kinh kinh tế nông nghiệp chăn nuôi hoặc ngư nghiệp đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, và canh rau phản ánh phần nào kinh tế nông nghiệp trồng trọt. Nước mắm, lại là một sản phẩm phát sinh của ngư nghiệp. Nước mắm hiện diện như một thứ gia vị độc đáo, mang đậm dấu ấn ẩm thực Việt.


NGHỀ BUÔN NƯỚC MẮM BẰNG ĐƯỜNG THỦY

Nước mắm là món “quốc hồn, quốc túy” của người Việt, làm nên bản sắc của ẩm thực Việt. Nó vừa là “món ăn”, vừa là gia vị không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn của kẻ sang hay người nghèo. Ít nhất từ năm 997, nước mắm đã được ghi danh trong Đại Việt sử ký toàn thư qua việc đi triều cống cho nhà Tống ở Trung Quốc. Chuyện đi buôn nước mắm thôi cũng đã có một “lịch sử” hết sức phong phú, nó phản ánh một phương thức phân phối sản phẩm một cách hết sức linh hoạt, về việc tiêu dùng một loại gia vị đặc biệt và xung quanh đó là biết bao câu chuyện về cuộc đời của dân buôn bằng đường thủy.

Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương