Lịch sử Việt Nam

Bài tham luận: “Vai trò của Phật giáo đối với việc thành lập, phát triển kinh đô Thăng Long và nước Đại Việt thời Lý Trần và những thời đại về sau”

  • TT Thích Huệ Thông
  • 26/07/2012

Nhân sự kiện Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, TT Thích Huệ Thông – UV HĐTS TW - Phó trưởng Ban Hoằng Pháp TW, Phó Ban Thường Trực BTS PG Bình Dương đã có bài tham luận: “Vai trò của Phật giáo đối với việc thành lập, phát triển kinh đô Thăng Long và nước Đại Việt thời Lý Trần và những thời đại về sau”. Tham luận nhấn mạnh: “Suốt chiều dài lịch sử từ 1000 năm Thăng Long đến nay, trong niềm tự hào vinh quang của dân tộc luôn có sự đồng hành, sự đóng góp tích cực và hiệu quả của Phật giáo. Đặc biệt là vai trò của Phật giáo trong việc tham gia kiến lập triều đại nhà Lý và việc dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La, tức Thăng Long – Hà Nội ngày nay. Tiếp theo đó là vai trò của Phật giáo đối với việc phát triển đất nước Đại Việt thời nhà Trần và sự đồng hành, sự đóng góp nhiệt thành và hiệu quả của Phật giáo trong thời đại ngày nay”.
 

Có thể nói đây là một chặng đường lịch sử đầy chông gai nhưng cũng rất vinh quang và tự hào của dân tộc, với những chiến tích hào hùng trong công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền độc lập và những thành tựu vượt bật trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước.

1.Vài nét về tính nhập thế và vai trò của Phật giáo đối với dân tộc:

Một khi nói đến sự đồng hành và vai trò của Phật giáo đối với dân tộc, chúng ta không thể không nói đến tính nhập thế cao cả của đạo Phật, bởi mục đích ra đời của đạo Phật là để khơi nguồn tuệ giác trong đời sống nhân gian, đem lại ánh sáng giác ngộ và tinh thần giải thoát cho mỗi con người. Xuất phát từ ý nghĩa cao cả, gần gũi và thiết thực đó nên đạo Phật luôn tùy duyên hóa độ. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy tinh thần tùy duyên nhập thế của đạo Phật thông qua “Tứ nhiếp pháp” (Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự) và trong muôn vàn lời giáo huấn của Đức Phật. Chính vì vậy mà ngay từ thời du nhập vào đất nước ta, thông qua nguồn tuệ giác, tâm từ bi, vị tha, vô ngã và nhất là hạnh nguyện độ sanh của các bậc chân tu hoằng pháp, Phật giáo đã sớm hòa hợp dung thông với văn hoá dân tộc trên tinh thần tùy duyên lợi hành đồng sự. Nhờ tinh thần hòa hợp dung thông này, mà Phật giáo đã rất thành công trong việc nhập thế độ sanh, gieo mầm đạo đức, ban rãi tâm từ, soi rọi ánh sáng Phật pháp thấm nhuần sâu rộng trong đời sống nhân gian.

Thật ra, từ thuở ban sơ, trong tâm hồn mỗi người dân nước Việt vốn thấm đẫm tình yêu quê hương đất nước và dạt dào truyền thống đạo đức dân tộc, đến khi du nhập vào nước ta, thì nền giáo dục đa văn hóa của Phật giáo thông qua con đường “trung dung” và “bát chánh đạo”, cùng với tứ vô lượng tâm “từ bi hỷ xả” và tinh thần dấn thân hy sinh “vô ngã”, như đã chắp thêm đôi cánh để lòng nhân nơi mỗi con người bay bỗng cao xa hơn trên bầu trời vị tha nhân ái. Kể từ khi du nhập vào nước ta, tư tưởng từ bi của Phật giáo đã nhanh chóng hòa quyện với nền đạo đức truyền thống dân tộc, điều này đã tạo nên tính cách thuần thiện và những ảnh hưởng tích cực, sâu sắc trong tâm hồn mỗi người dân nước Việt: -Đó là tâm từ bi dễ cảm thông chia sẻ với những hoàn cảnh bất hạnh không may, đó là tâm khát khao một thế giới hòa bình an lạc, tôn trọng sự sống muôn loài muôn vật, đó là tình yêu thương và mặn mà với những điều chân thiện trong đời sống. Và vượt lên trên tất cả, đó chính là trách nhiệm cao cả của người con Phật đối với nền tảng hạnh phúc gia đình, đối với vận mệnh an nguy của tổ quốc và sự tồn vong của cả dân tộc…

Trước khi đi vào nội dung chính của tham luận, nhân đây cho phép chúng tôi nêu lên những đặc tính cơ bản của đạo Phật đối với đời sống nhân loại. Như chúng ta đã biết, đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ, giáo lý nhà Phật luôn mang lại một đời sống hòa bình hạnh phúc cho nhân loại, Phật pháp là ánh sáng soi đường để quần chúng Phật tử hướng đến ngôi nhà giác ngộ giải thoát. Niềm tin sâu sắc của quần chúng Phật tử có chánh kiến chính là nền tảng vững chắc để Phật giáo luôn đồng hành và cống hiến không mệt mõi cho đất nước và dân tộc. Trãi qua trên 2550 năm hình thành, tồn tại và phát triển, trong lịch sử đạo Phật, chưa từng có một trường hợp, một quan điểm nào mà đạo Phật bào chữa cho chiến tranh, hoặc một ý niệm, hay một sự kiện bạo tàn nào được tìm thấy trong đạo Phật, cho đến một cuộc chiến tranh nào xảy ra, dù là bênh vực cho quyền lợi của đạo Phật cũng hoàn toàn không có. Nói như vậy để tất cả chúng ta cùng hiểu rằng, có Đạo Phật thì không có chiến tranh… Để làm sáng tỏ tinh thần mong muốn được sống trong hòa bình hòa hợp của đạo Phật, thật không gì minh bạch hơn, khi chúng ta cùng nhau chiêm nghiệm lời Đức Phật đã dạy trong kinh Pháp Cú: “Hận thù không trừ diệt hận thù, chỉ có tình thương mới trừ diệt hận thù”. Khi du nhập vào đất nước ta, đạo Phật càng phát huy tinh thần nhân bản và nhân văn môt cách sâu sắc. Thật ra, chỉ với tư tưởng đem lại hòa bình hạnh phúc bền vững cho nhân loại, chứ chưa nói đến tinh thần giác ngộ giải thoát hay vô ngã vị tha, và chỉ nội điều này thôi, cũng đủ để cho tất cả chúng ta quay về quy y nương tựa ngôi nhà Phật giáo.

Một điều đáng lưu ý nữa, nếu như một số tôn giáo lớn có mặt trên đất nước Việt Nam dạy tín đồ của mình phải toàn tâm toàn ý hướng đến đấng giáo chủ, phó thác vận mệnh cho thượng đế, thậm chí quên cả cha mẹ anh em, đồng bào đồng loại, quê hương đất nước, dân tộc, tổ tiên, nguồn cội… thì giáo lý nhà Phật lại dạy hàng đệ tử là không nên tin đạo Phật một cách mù quáng (bởi đức Phật đã từng dạy “tin ta mà không hiểu ta cũng không khác gì báng bổ ta”), mà dạy quần chúng Phật tử phải nỗ lực cần cầu tu đạo giải thoát và phải luôn đặt “tứ trọng ân” lên trên bước đường hành đạo. Tứ trọng ân đó là thâm ân của cha mẹ, của sư trưởng, của đồng bào (đàn na tín thí) và nhất là ân sâu của quốc chủ. Đáng lưu ý hơn, Đức Phật còn dạy hàng đệ tử “cứu khổ chúng sanh tức là cúng dường chư Phật”… Đây chính là sự phát huy nền tảng đạo đức truyền thống và nhận thức cội nguồn một cách sâu sắc mà đạo Phật đã khơi dậy ý thức dân tộc cũng như tình yêu quê hương nguồn cội trong tâm hồn mỗi người con Phật.

Người theo đạo Phật luôn quan niệm rằng, đất nước còn thì mái chùa còn, ngược lại đất nước rơi vào tay giặc ngoại xâm thì mọi thứ cũng tiêu tan. Do vậy mà trong thời bình, khi đất nước tự do, độc lập thì Phật giáo là một đoàn thể tự giác tự nguyện, đóng góp hiệu quả trong nhiều lãnh vực đời sống nhân sinh. Lúc đất nước bị đô hộ hay ngoại bang xâm lấn thì Phật giáo không những không quay lưng với đất nước, không những không tiếp tay cho kẻ xâm lược, mà còn dâng hiến kế sách đối phó, thậm chí còn hy sinh cả máu xương để giành lại giang sơn xã tắc. Nói cho cùng thì trong vô số ngôi nhà cùng hiện diện trên đất nước Việt Nam thân yêu này, ngôi nhà Phật giáo vẫn mãi là ngôi nhà chung, thiêng liêng, ấm cúng, lợi ích và an ổn nhất cho tất cả mọi người, mà ở đó, đối với bất kỳ người dân Việt Nam nào, dù gặp bất kỳ hoàn cảnh thuận nghịch nào, dù không cùng ý thức hệ, dù không đồng sắc tộc hay tôn giáo đi chăng nữa, thì cũng đều có thể tin tưởng tìm về nương trú trong tâm thái bình an thanh thản… Điểm qua như vậy để chúng ta thêm một lần nữa khẳng định sự đồng hành và tính nhập thế cao cả của đạo Phật luôn đem lại lợi ích một cách cụ thể và thiết thực cho dân tộc. Suốt chiều dài lịch sử nước nhà, chúng ta đã thấy rất rõ Phật giáo phụng sự dân tộc một cách tự nguyện, vô tư, trong sáng, không hề có một mảy may vụ lợi hay bất kỳ một chủ đích nào khác. Bởi theo quan niệm của Phật giáo thì phụng sự dân tộc, cũng chính là một Phật sự vô cùng quan trọng để thể hiện tấm lòng đền đáp thâm ân của “quốc chủ” như lời Đức Phật đã dạy. Đây là điều mà không một tôn giáo thứ hai nào có mặt trên thế giới này có thể thể hiện được.

Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, luôn gắn liền vận mạng dân tộc, đồng cam cộng khổ chia ngọt sẻ bùi cùng dân tộc, thăng trầm cùng dân tộc trải qua nhiều thời đại và trong mọi hoàn cảnh. Sự an nguy của dân tộc cũng chính là nỗi lo canh cánh trong lòng của những người con Phật, bởi tất cả đều luôn mong muốn một đời sống thanh bình an lạc… Sự gắn kết mật thiết này đã hòa quyện nhuần nhuyễn giữa truyền thống đạo đức của tổ tiên với tinh thần từ bi, trí tuệ, vị tha, vô ngã của đạo Phật. Sự hòa quyện này đã tạo nên dấu ấn sinh động trong công cuộc dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước, điều đó đã thể hiện qua những trang sử vàng từ thời Đinh - Lê cho đến thời Lý – Trần, mãi đến các đời sau và nhất là thời đại Hồ Chí Minh lịch sử.

2.Vai trò của Phật giáo đối với việc thành lập, phát triển kinh đô Thăng Long và nước Đại Việt thời Hậu Lý:

Nhìn lại lịch sử chúng ta sẽ thấy, dưới các triều đại từ Đinh Lê đến Lý Trần tinh thần nhập thế phổ độ chúng sinh của Phật giáo đã lấn át những ảnh hưởng vốn có vị thế vững vàng của đạo Nho trong đời sống xã hội đương thời, bằng chứng là các vị cao Tăng đạo hạnh và có uy tín của Phật giáo đã tham gia triều chính, đảm nhận vai trò quân sư, cố vấn cho vận mệnh quốc gia, vì các ngài nhận thấy sự có mặt kịp thời của mình là cần thiết để hóa giải nỗi đau triền miên của một dân tộc nhỏ bé vốn đã từng và đang bị ngoại bang xâm lấn. Vào thời nhà Đinh, năm 971, sau khi lên ngôi vua, Đinh Tiên Hoàng đã có những quy định cụ thể cho các cấp bậc Tăng đạo. Sư Ngô Chấn Lưu đã được vua phong chức Tăng thống, đứng đầu Phật giáo thời bấy giờ và được ban hiệu là Khuông Việt Thái Sư. Việc nhà vua ban tước hiệu “Thái Sư” cho một vị thiền sư, cũng đồng với nghĩa, triều đại nhà Đinh đã chính thức công nhận nhân sự của Phật giáo trực tiếp tham gia chính sự trong vai trò chỉ đạo tâm linh, điều này đã được thể hiện qua nền “đức trị” với các chính sách sáng suốt và từ bi nhân đạo rất hợp lòng dân. Đến thời Lê, vua Lê Đại Hành đã cho mời hai thiền sư Pháp Thuận và Vạn Hạnh làm cố vấn chính trị. Đặc biệt, thiền sư Vạn Hạnh được vua Lê Đại Hành đích thân xin ý kiến về cuộc kháng chiến chống quân Tống vào năm 980… Bước sang thời Lý và cả thời Trần, Phật giáo đã được khẳng định vị thế của một tôn giáo chính thống, bởi các vị vua nhà Lý đều là những Phật tử thuần thành, thâm tín Phật pháp, có học thức và tri kiến Phật pháp; và bởi những ảnh hưởng lớn lao từ nền giáo dục đạo đức và tinh thần nhập thế khơi nguồn tuệ giác trong đời sống nhân gian rất hiệu quả. 

2.1 Khởi sự hình thành triều đại nhà Hậu Lý:

Nói đến vai trò của Phật giáo đối với việc thành lập, phát triển kinh đô Thăng Long và nước Đại Việt thời nhà Lý, trước hết chúng tôi xin trình bày vắn tắt khởi sự hình thành triều đại nhà Hậu Lý và việc dời đô từ kinh thành Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La, tức Thăng Long - Hà Nội ngày nay. Vì đây là cột mốc thời gian rất quan trọng đánh dấu sự khởi đầu 1000 năm Phật giáo đồng hành, đóng góp tích cực hiệu quả cho dân tộc. Đồng thời cũng nói lên vai trò chủ đạo của Phật giáo trong việc sát cánh với triều đình nhà Hậu Lý lèo lái con thuyền dân tộc, góp phần làm cho đất nước Đại Việt ngày càng phồn vinh và thạnh trị…

Theo lịch sử thì Lý Công Uẩn sinh năm 974, tại hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc ninh). Mẹ là Phạm Thị. Khi lên ba tuổi, mẹ ông đem ông cho thiền sư Lý Khánh Văn, trụ trì chùa Cổ Pháp làm con nuôi và được thiền sư Lý Khánh Văn đặt tên Lý Công Uẩn. Từ đó Lý Công Uẩn sống trong chốn thiền môn, chịu sự giáo dục trực tiếp và ảnh hưởng phẩm hạnh đạo đức của thiền sư Lý Khánh Văn. Ngay từ nhỏ, ông đã được thiền sư Vạn Hạnh trụ trì chùa Lục Tổ nhận xét: “Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”. Khi trưởng thành, nhờ sự bảo hộ của thiền sư Vạn Hạnh và anh trai của thiền sư Lý Khánh Văn, ông vào kinh đô Hoa Lư làm quan dưới thời vua Lê Long Đĩnh, vị vua cuối cùng của triều đại Tiền Lê. Ông đảm nhận chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, một chức quan võ chỉ huy quân đội bảo vệ kinh thành. Sách Thiên nam Ngữ Lục ghi rằng: “Hơn 10 năm tu tâm dưỡng tánh, thọ giáo nơi cửa thiền và được sự rèn luyện của thiền sư Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn trở thành một người quả cảm, có học vấn và trí tuệ, được quần thần cảm mến kính phục”. Nói về sự lên ngôi vua của Lý Công Uẩn, thiết nghĩ cũng cần điểm qua vài nét về lịch sử thời Tiền Lê. Dưới thời Tiền Lê, Phật giáo giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội. Nhiều vị cao Tăng được triều đình trọng dụng. Lực lượng quân đội do Đào Cam Mộc nắm giữ, còn chủ trương đường lối trị quốc an dân thì do Thiền sư Vạn Hạnh lãnh đạo. Tuy nhiên đến cuối triều đại Tiền Lê, vua Lê Long Đĩnh trở nên tàn ác dã man, khiến lòng dân oán hận, mất đi sự ủng hộ then chốt của Phật giáo và quân đội. Đây là nguyên do chính khiến cho triều đại Tiền Lê sụp đổ… Sau khi Lê Long Đĩnh qua đời, Lý Công Uẩn đã được hai thiền sư Vạn Hạnh, Đỗ Pháp Thuận cùng với tướng quân Đào Cam Mộc phò trợ tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, vương hiệu Lý Thái Tổ, trị vì được 20 năm, kể từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028.

2.2 Vai trò của Phật giáo trong việc dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La, tức Thăng Long - Hà Nội ngày nay:

Nói về việc dời đô, trước đó thiền sư Vạn Hạnh đã sớm nhận thấy kinh thành Hoa Lư tọa lạc ở một vùng núi non hiểm trở chật hẹp cùng nhiều yếu tố không còn hợp thời, còn thành Đại La lại là một vùng đồng bằng thoáng rộng với nhiều địa thế thuận lợi có thể xây dựng phát triển trở thành một kinh đô quy mô; một trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội, thương mại mang tầm vóc và diện mạo mới của nước Đại Việt. Điều này đã được thể hiện khá rõ trong chiếu dời đô (Thiên đô chiếu): “Đây là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”. Do vậy khi Lý Công Uẩn lên ngôi, thiền sư Vạn Hạnh đã cố vấn cho nhà vua quyết định dời đô từ kinh thành Hoa Lư về thành Đại La vào tháng 7 năm Thuận Thiên thứ nhất 1010, ngay sau đó đổi tên Đại La thành Thăng Long và đổi quốc hiệu Đại Cồ Việt thành Đại Việt.

Việc làm táo bạo này của vua Lý Thái Tổ đã chứng tỏ bản lĩnh của một đấng minh quân sáng suốt. Điều đáng chú ý là đại sự cực kỳ hệ trọng của cả một dân tộc lại được thực hiện bởi ý tưởng của một Tăng sĩ. Chính ý tưởng dời đô của thiền sư Vạn Hạnh đã thể hiện một tầm nhìn sâu xa và đầy trách nhiệm của một bậc quân sư trí tuệ đầy tâm huyết với vận mạng dân tộc. Đây là việc làm đầu tiên có ý nghĩa quan trọng nhằm khẳng định vị thế của một quốc gia độc lập.

2.3 Vua lý Thái Tổ xuất thân từ chốn thiền môn, các vua nhà Lý sau này đều là những Phật tử thuần thành, thâm tín Phật pháp:

Như chúng ta đã biết, ngay từ khi vừa mới lên ba, vua Lý Thái Tổ đã được mẹ đem vào chùa Cổ Pháp, thiền sư trụ trì Lý Khánh Văn đã nhận ông làm con nuôi và đặt tên cho ông là Lý Công Uẩn. Các vị vua nhà Hậu Lý đều rất tôn sùng đạo Phật, nhất là vua Lý Thái Tổ, sau khi dành được quyền lực từ triều đại Tiền Lê, vào tháng 10 âm lịch năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua xưng vương hiệu là Lý Thái Tổ, khởi đầu vương triều nhà Hậu Lý. Điều đáng nói, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, các vương triều nhà Lý đã giữ vững được ngai vàng lâu dài đến 216 năm (1009 – 1225) trãi qua 9 đời vua, điều mà các vương triều trước đó không thể nào thực hiện nỗi, nếu cố gắng lắm cũng chỉ giữ được vài chục năm. Một điều đáng ghi nhận nữa là, các vị vua nhà Lý không chỉ giữ yên giang sơn xã tắc mà còn khiến cho quân xâm lược phải khiếp sợ hùng uy của quân dân Đại Việt.

Cùng với việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La là hàng loạt công trình kiến trúc xây dựng chùa chiền, đúc chuông, thỉnh kinh và độ Tăng xuất gia tu học theo Phật pháp. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chép các sự kiện này như sau: “Năm 1010, mùa thu, tháng 7, vua Lý Thái Tổ từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La… Nhà vua xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức, tất cả 8 sở… Lại làm chùa Hưng Thiên Ngự trong thành và chùa Vạn Tuế gần điện Thái Hòa, ngoài ra còn xây chùa Thắng Nghiêm, Thiên Quang, Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ… Tháng 12 năm đó, phát bạc ở kho 1680 lạng để đúc chuông đồng lớn đặt ở chùa Đại Giáo… Năm 1011, bên hữu dựng chùa Vạn Tuế, ngoài thành dựng chùa Tứ Đại Thiên Vương và nhiều chùa khác như chùa Cấm Y, Long Hưng, Thánh Thọ… Năm 1014, mùa thu, tháng 9, xuống chiếu phát 310 lạng vàng trong kho để đúc chuông treo ở chùa Hưng Thiên, tháng 10, lại xuống chiếu phát 100 lạng bạc trong kho để đúc hai quả chuông treo ở chùa Thắng Nghiêm… Năm 1016, độ hơn một nghìn người ở kinh sư làm Tăng đạo. Dựng hai chùa Thiên Quang, Thiên Đức và tô bốn pho tượng Thiên Đế… Năm 1018, mùa hạ, tháng 6, sai Viên ngoại lang là Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Tống xin thỉnh Tam Tạng kinh… Năm 1019, xuống chiếu độ dân trong nước làm Tăng… Năm 1021, làm nhà Bát giác thờ kinh… Năm 1024, mùa thu, tháng 9, làm chùa Chân Giáo ở trong thành để nhà vua tiện ngự đọc tụng kinh kệ”. Về các sự kiện này, sử gia Lê Văn Hưu đã ghi trong Đại Việt Sử Ký: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm Tăng hơn nghìn người ở kinh sư” Và “Về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế thì Lý Thái Tổ hơn ư? Đáp: Hơn thì không biết, chỉ thấy đức của họ Lý dày hơn họ Lê…”. Trên đây là một số sự kiện thể hiện sự sùng mộ Phật pháp và đạo đức sâu dày của vua Lý Thái Tổ. Các đời vua kế tiếp như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông… vẫn tiếp tục các Phật sự như xây chùa độ Tăng, đúc chuông tạc tượng, ghi chép kinh sách và khuyến khích nhân chúng tu hành theo Phật pháp. Vào thời kỳ này Phật giáo trở thành quốc giáo, đạo Phật phát triển mạnh mẽ rộng khắp trong đời sống nhân gian, đến nỗi sử gia Lê Văn Hưu đã phải thốt lên: “Trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền, nhân dân quá nửa là sư sãi”

Lịch sử ghi lại rằng, dưới thời nhà Lý, các vị vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông thay nhau kế tục nghiệp đế vương, cả ba vị vua này đều rất kính Phật và yêu dân, điều đó đã được thể hiện khá cụ thể trong tư tưởng, đường lối của nền “đức trị”. Do đó từ việc nhiếp chính điều hành đất nước, đến việc đánh dẹp các cát cứ trong nước, đập tan các đoàn quân xâm lược phương Bắc, sự nghiệp giữ nước, xây dựng phát triển đất nước đều thành tựu viên mãn, nhờ vậy nước Đại Việt ngày càng phồn vinh thạnh trị. 

2.4. Vài nét về những đóng góp tiêu biểu của Phật giáo thời nhà Lý đối với văn học và kiến trúc:

Vào thời nhà Lý, nền văn học dân tộc xuất hiện ba áng thơ văn rất cô đọng nhưng gói gọn khí phách quật cường hào hùng của cả dân tộc, điều này đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lịch sử văn học nước nhà. Đó là tờ “Chiếu dời đô”, bài văn “Lộ Bố” và bài hịch “Nam quốc sơn hà”. Hoàng Thái hậu Ỷ Lan cũng được xếp vào một trong ngũ tác gia tầm cở đương thời với bài kệ “Sắc không” mang tư tưởng Phật giáo rất nổi tiếng. Đặc biệt nền văn học Phật giáo thời Lý cũng đã xuất hiện một lực lượng tác gia lỗi lạc, đa phần là các vị thiền sư uyên bác, như Thiền sư Mãn Giác, Thiền sư Viên Chiếu, Thiền sư Viên Thông, Thiền sư Không Lộ, Thiền sư Quảng Nghiêm, Thiền sư Bảo Giác, Thiền sư Ngộ Ấn… Vào thời kỳ này, một tác phẩm Phật giáo rất có giá trị là Thiền Uyển Tập Anh được ra đời, trong đó ghi lại hành trạng của 68 vị Thiền sư lỗi lạc, được xem là nguồn tư liệu quý hiếm rất quan trọng mà giới học Phật cũng như các nhà nghiên cứu Phật giáo quan tâm. Các thiền sư vào thời nhà Lý đã góp phần không nhỏ vào kho tàng văn học cổ Việt Nam. Dù hầu hết các sáng tác của các vị thiền sư đều mang ý nghĩa khai sáng con đường giải thoát giác ngộ cho nhân thế, nhưng vẫn bao hàm yếu tố xã hội tích cực và rất có giá trị văn học. Bên cạnh đó, từ những thời pháp thoại, những bài giảng về “phát bồ đề tâm” trong đó nhấn mạnh đến cơ sở để người học Phật phát tâm tu hành là “thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” (trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ ba đường)… vô hình chung những áng văn thuần túy Phật pháp này đã khơi dậy truyền thống yêu nước sâu rộng trong đời sống nhân dân và hiển nhiên nó đã hình thành một nguồn văn học yêu nước rất tự nhiên trong văn học nước nhà vào thời kỳ này. Trong sách Việt Nam Cổ Văn Học Sử của Nguyễn Đổng Chi đã ghi lại rằng: “Trong thế kỷ 10, cửa chùa đã đóng một vai trò rất quan trọng về văn học. Cũng vì thế mà đạo Phật ở Việt Nam từ đó càng lắm tín đồ và được chính phủ nể vì”.          

Các vua Lý không những sùng mộ đạo Phật mà còn thâm hiểu Phật pháp, tin sâu nhân quả, nên việc trị quốc an dân đã chịu rất nhiều ảnh hưởng của Phật giáo. Việc xây chùa độ Tăng, đúc chuông tạc tượng tiếp diễn qua nhiều đời vua phần nào cũng đã nói lên điều đó. Vào đời Lý, có nhiều công trình xây dựng Phật giáo có giá trị nghệ thuật cao, chẳng hạn như tượng Đức Phật được tạc bằng đá hoa cương xanh ngồi thiền định trên tòa sen, cao 1m87, kể cả bệ là 2m77, tượng Phật này được đặt tại chùa Phật Tích, được xem là kỷ lục về tạc tượng đương thời. Thời nhà Lý có tượng Phật Di Lặc ở chùa Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên ở chùa Sùng Khánh dựng năm 1057 gồm 12 tầng, chuông Qui Điền đúc năm 1101 và vạc (đỉnh) Phổ Minh là những công trình mỹ thuật tuyệt vời, được xem là quốc bảo với danh hiệu “An Nam Tứ Đại Khí”. Ngoài ra còn có một tác phẩm kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng nữa, đó là chùa Diên Hựu được xây dựng vào năm 1049, chùa này còn có tên là chùa Một Cột (chùa Nhất Trụ, Liên Hoa Đài)… Ngày nay Văn Miếu Quốc Tử Giám và chùa Một Cột được xem là những biểu tượng văn hóa và tâm linh rất sâu sắc của thủ đô Hà Nội…         

2.5 Những ảnh hưởng rất quan trọng của Phật giáo đối với việc trị quốc an dân dưới thời nhà Lý:

Một khi nói đến vai trò của Phật giáo đối với việc thành lập, phát triển kinh đô Thăng Long và nước Đại Việt dưới thời Lý Trần và những thời đại về sau, tức là chúng ta đang nói đến những ảnh hưởng rất to lớn và vô cùng quan trọng của đạo Phật đối với nền chính trị của đất nước trong giai đoạn lịch sử này.  

Như chúng ta đã biết, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội kiến trúc thượng tầng, nó tác động rất lớn tới nhiều lĩnh vực trong đời sống, từ chính trị, kinh tế, văn hóa tư tưởng, đạo đức giáo dục và bao hàm tâm tư tình cảm của toàn dân đối với cả dân tộc. Khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã trở thành một đạo nhập thế có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc tới mọi mặt của đời sống, quan trọng hơn cả đó là ảnh hưởng đến văn hóa tư tưởng và chính trị xã hội.

Nhìn lại lịch sử dân tộc chúng ta đều nhận thấy rất rõ giai đoạn thời Lý – Trần là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của đạo Phật. Đồng thời đây cũng là giai đoạn nước Đại Việt có bước phát triển vượt bật về kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa xã hội so với hàng ngàn năm trước đó. Đặc biệt vương triều nhà Lý rất quan tâm tới phát triển văn hóa, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc nhằm ổn định an ninh trật tự xã hội. Dưới triều nhà Lý cũng như nhà Trần, đạo Phật, Nho giáo và Lão giáo đều cùng tồn tại và phát triển nhưng không hề xảy ra xung đột tôn giáo. Tuy nhiên, đạo Phật được các vua Lý và vua Trần sùng bái từ đó đưa ra những chính sách ưu ái tạo điều kiện cho đạo Phật phát triển mạnh mẽ. Dưới thời Lý – Trần, Phật giáo trở thành tư tưởng chính thống của quốc gia, nền chính trị dưới thời Lý và Trần chịu ảnh hưởng rất lớn bởi tư tưởng hướng thiện xuất phát từ đức hạnh từ bi trên tinh thần trí tuệ, giải thoát cứu vớt con người ra khỏi khổ đau từ giáo lý của đạo Phật.

Dưới triều Lý, từ vua quan đến thần quân đều tôn sùng đạo Phật. Trong bộ máy chính quyền trung ương của triều Lý thời bấy giờ có một ngạch quan dành riêng cho những người tu hành gọi là hệ thống Tăng quan. Đứng đầu hệ thống Tăng quan là vị Tăng Thống. Tăng Thống là một chức sắc của đạo Phật, là người đứng đầu Tăng Ni cả nước. Cấp dưới Tăng Thống là Tăng Lục, ngoài ra còn có Tăng Ty giác nghĩa, Tăng đạo chánh, phó Tăng đạo chánh… Tăng quan cũng đầy đủ chín cấp bậc phẩm hàm (cửu phẩm) như bên quan văn và quan võ. Các Tăng quan có phẩm hạnh đạo đức và tài năng uyên bác luôn được triều đình trọng dụng. Vị Tăng Thống và các thiền sư đạo cao đức trọng có tài thao lược còn đảm nhận vai trò rất quan trọng trong việc đề ra các chính sách trị quốc an dân cho triều đình. Khi đất nước lâm nguy hay có biến cố, các bậc Tăng quan được nhà vua trực tiếp mời đến để thỉnh thị những cao kiến, hoặc cùng bàn bạc với nhà vua những đối sách giữ gìn giang sơn xã tắc. Vào thời Lý, thiền sư Đa Bảo, Viên Thông, Nguyễn Thường... nhiều lần được vua Lý Thái Tổ thỉnh vào cung để luận bàn việc nước. Một số nhà sư đóng góp công lao to lớn với đất nước được triều đình phong làm Quốc sư như Quốc sư Viên Thông, Quốc sư Thông Biện... các Tăng quan đạo đức và uyên bác đều là những cố vấn chính trị đặc biệt của nhà vua.

Đường lối chính trị thiên về “đức trị” dưới triều Lý đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền luật pháp mang nặng tính chất đạo đức, dùng lòng nhân và tâm từ để cảm hóa, thay vì các khung hình phạt khắc nghiệt như các vương triều trước đó. Dưới triều Đinh - Tiền Lê, người nào trái phép nước thì sẽ bị chịu tội bỏ vạc dầu, điều này mới nghe qua cũng cảm thấy bất nhẫn, trong khi đó, luật pháp triều Lý lại lấy đức để cảm hóa lòng người, điều này chứa đựng tinh thần nhân ái, khoan dung mang dấu ấn tư tưởng" từ bi hỉ xả" của đạo Phật. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chép: “Trước kia, trong nước việc kiện tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ luật văn, cốt làm khắc nghiệt, thậm chí bị oan uổng. Vua lấy làm thương xót sai trung thư sửa định luật lệnh”. Lòng thương xót của nhà vua đối với dân chúng đã chi phối nội dung luật pháp, tuy nhiên chúng ta cũng thấy, chính lòng thương xót ấy là biểu trưng cho sự dung hợp giữa truyền thống của dân tộc Việt Nam với tư tưởng từ bi cứu khổ của đạo Phật. Đối với những người vi phạm vào các quy định của nhà nước vua Lý thường lấy lòng khoan dung mà tha thứ. Năm 1028, Lý Thái Tông lên ngôi đã tha tội làm phản cho Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương. Năm 1043, Nùng Trí Cao ở Châu Quảng Nguyên làm phản, sau khi bắt được Trí Cao, vua không những tha tội mà còn ban cho đô ấn, phong làm Thái Bảo và ban cho mấy châu, quận. Đối với tội giết người pháp luật triều Lý quy định tranh nhau ruộng đất mà lấy đồ khí nhọn sắc đánh chết hoặc làm bị thương người khác thì bị đánh 80 trượng và chịu đày.Giết người, làm phản là những trọng tội, các triều đại trước thường liệt nó vào những tội "thập ác" thế nhưng với tinh thần nhân ái, khoan dung các vua Lý đã xử phạt nhẹ. Điều này đã khiến cho nhà sử học Ngô Sĩ Liên đánh giá "Giết người thì phải xử tội chết đó là phép của đời xưa, nay tội giết người cũng xử như tội khác thật là không phân biệt mức độ, mất sự cân nhắc nặng nhẹ". Rồi Ngô Sĩ Liên chỉ ra nguyên nhân "Đó là vì Thái Tông say đắm cái lòng nhân nhỏ nhặt của nhà Phật mà quên mất cái nghĩa lớn của người làm vua". Luật pháp triều Lý coi trọng công tác giáo dục và đặc biệt quan tâm đến người già, trẻ em và người neo đơn cơ nhỡ. Trong xét xử các vua Lý thường khoan dung, lấy giáo dục làm chính. Có lần khi đang xét xử, vua Lý Thánh Tông đã chỉ vào công chúa Động Thiên mà nói “Trẫm yêu con trẫm cũng như trẫm yêu dân vậy. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót. Từ nay về sau không kể tội gì nặng hay nhẹ đều nhất thời khoan giảm”.

Như chúng ta đã biết, luật pháp dưới thời phong kiến chủ yếu là công cụ để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đạo Phật, luật pháp triều Lý lại chứa đựng những nhân tố đạo đức rất tiến bộ, nổi bật lên là tinh thần khoan dung đối với người có tội, yêu thương chia sẻ cảm thông đối với nhân dân; bảo vệ, chăm lo tới cuộc sống của dân. Từ đó chúng ta thấy cái tâm yêu dân như con của các vua Lý cũng chính là cái đạo trị nước của triều đình nhà Lý. Qua đó chúng ta có thể xác định tư tưởng từ bi của đạo Phật vào thời Lý đã thật sự hòa quyện với đạo đức truyền thống mang đậm tính chất nhân ái của dân tộc Việt. 

Các vua Lý sống rất gần gũi với nhân dân, chăm lo cuộc sống của dân, thân chinh đi làm lễ cày ruộng tịch điền, thường hay vi hành để xem dân chúng sản xuất cũng như nắm bắt tình hình cuộc sống của dân. Vào những năm lũ lụt, hạn hán mất mùa triều đình đều cấp thóc gạo, tiền và xóa thuế cho dân. Năm 2010, sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã đại xá thuế cho dân chúng trong ba năm. Có thể nói là lòng nhân ái của các vị vua nhà Lý đã vượt qua khỏi ranh giới giai cấp, địa vị xã hội. Nhìn lại lịch sử chúng ta sẽ dễ dàng xúc cảm khi đọc qua những đoạn văn diễn tả sự thương xót và đồng cảm của vua Lý Thánh Tông đối với  nỗi khổ của những tù nhân trong mùa đông giá rét “Mùa đông năm Ất Mùi 1055, trời giá rét, Lý Thánh Tông nói với các quan rằng, trẫm ở trong cung kín, sưởi lò than, khoác áo lông mà còn rét như thế này. Trẫm nghĩ đến tù nhân bị nhốt trong lao tù, chịu trói buộc khổ sở, mà chưa biết phải trái ra sao. Ăn không đầy bụng, mặc chẳng che thân. Vì gió rét, nên có kẻ chết không nơi nương tựa. Trẫm thật thấy làm thương”. Còn vua Lý Nhân Tông thường hay mở hội Phật và tha cho những người có tội… Lòng nhân ái, thương người của các vua Lý không chỉ đối với nhân dân Đại Việt mà còn cả với những tù binh Chiêm Thành. Năm 1010, Lý Thái Tổ đã tha cho 28 người Chiêm Thành bị Lê Ngọa Triều bắt trước đó. Không những thế vua Lý còn sai người cấp thuốc men, quần áo, lương thực để họ trở về quê hương. Năm 1044, Lý Thái Tông cầm đánh Chiêm Thành bắt được hơn 5000 tù binh. Nhà vua không những không cho giết mà còn cho họ làm ăn sinh sống ở Vĩnh Khang (Nghệ An). Năm 1069, Lý Thánh Tông bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ cùng 5 vạn dân Chiêm Thành vua cũng không giết một ai. Đối với nhà Tống, năm 1075, sau khi đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Tống triều, vua nhà Lý đã giao trả cho nhà Tống những dân phu cùng quân lính bị bắt tại Châu Khâm và Châu Ung. Việc triều Lý đối xử khoan hồng độ lượng với những tù binh nhà Tống và Chiêm Thành bị bắt trong chiến tranh, chính là xuất phát từ tư tưởng vị tha nhân ái và cái tâm đạo đức của người cầm quyền. Và điều chắc chắn rằng, nền “đức trị” ấy đã được hòa quyện nhuần nhuyễn giữa truyền thống đạo đức của người Việt và tư tưởng từ bi cứu khổ, giác ngộ giải thoát, phổ độ chúng sanh của đạo Phật.

2.6 Tóm lược vai trò của Phật giáo đối với việc thành lập, phát triển kinh đô Thăng Long và nước Đại Việt thời nhà Lý:

Nói đến vai trò của Phật giáo đối với việc thành lập, phát triển kinh đô Thăng Long và nước Đại Việt dưới thời nhà Lý, tức là chúng ta nói đến sự hình thành và phát triển của một nền văn hóa Việt Nam hoàn toàn độc lập và tự chủ, được các thiền sư xây dựng trên nền tảng trí tuệ tâm linh, sáng suốt nhân quả và tường tận muôn duyên, thể hiện qua ý tưởng dung hòa giữa văn hóa đạo đức truyền thống dân tộc và văn hóa tâm linh đặc thù Phật giáo một cách nhuần nhuyễn sâu sắc, tạo ảnh hưởng tích cực đến sự thái bình thạnh trị của đất nước. Nhìn lại lịch sử thời Lý Trần và nhất là thời đại ngày nay, chúng ta dễ dàng nhận ra vai trò quan trọng và đóng góp vô cùng hiệu quả của Phật giáo trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Trước tiên chúng ta nói đến vai trò của Phật giáo trong việc dời đô, về đại sự quốc gia này, từ lâu thiền sư Vạn Hạnh đã có chủ ý dời đô từ Hoa lư về Đại La để đất nước có điều kiện thuận lợi hơn trong việc bảo vệ nền độc lập chủ quyền dân tộc, phát triển đất nước Đại Việt và tính kế trường tồn cho các thế hệ mai sau chứ không riêng gì chỉ cho nhà Lý và điều đó đã được khẳng định một cách thuyết phục trong suốt một ngàn năm qua. Điều may mắn cho dân tộc Việt Nam, là vua Lý Thái Tổ vốn xuất thân từ chốn thiền môn, lại là đệ tử thuần thành của thiền sư Vạn Hạnh. Chính vì vậy mà chỉ sau một năm nhiếp chính, nhà vua đã không ngần ngại thực hiện ý tưởng trọng đại này.

Về phương diện chính trị, các thiền sư đã gầy dựng nên cả một triều đại thuần thiện thuần từ, lấy ánh sáng tuệ giác của đạo Phật quán chiếu hiện tượng thế gian kết hợp với đạo đức và tâm từ bi làm nền tảng cho chính trị, từ đó hình thành nền “đức trị”, nhờ đó mà triều đình nhà Lý đã đưa ra những chính sách hợp lòng dân, đem lại hạnh phúc ấm no cho dân chúng, đất nước thái bình an lạc. Chúng ta cũng cần lưu ý, Thiền sư Vạn Hạnh và Thiền sư Đỗ Pháp Thuận là hai nhà sư đã có công rất lớn trong việc hình thành nên triều đại nhà Lý, chính hai vị thiền sư lỗi lạc này đã đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua và đây là một vị minh quân đã làm rạng rỡ thêm những trang sử vàng son của dân tộc. Nhờ thấm nhuần nền tảng đạo đức, trí tuệ, từ bi và đạo lý nhân quả của Phật giáo, nhất là dựa vào niềm tin chuyển hóa, nên các hình phạt và tù ngục trong triều đại này dần dần được thay thế bởi các chính sách giáo dục đạo đức và cảm hóa có hiệu quả. Nền chính trị và luật pháp được xây dựng trên cơ sở giáo dục đạo đức, cảm hóa con người, ươm mầm từ bi sâu rộng trong đời sống nhân gian, điều này không những không làm cho dân chúng đói nghèo, xã hội rối ren, mà ngược lại phương cách giáo dục phẩm hạnh nhân cách kết hợp với nền “đức trị” hợp lý đã làm cho đất nước thái bình, muôn dân no ấm. Có thể nói đây là một dấu ấn sinh động mà Phật giáo đã để lại trong lòng dân tộc trong vai trò nhập thế độ sanh của mình.

Về phương diện văn học, các thiền sư là những tác gia then chốt xây dựng nên nền văn học nước nhà thời bấy giờ, các tác phẩm của các thiền sư đã đóng góp rất lớn vào việc khơi nguồn đạo đức, xây dựng đời sống tâm linh bền vững trên dòng chảy thế sự thông qua các chủ đề Phật giáo. Về kiến trúc mỹ thuật, hầu hết các công trình lớn mang tầm cở quốc gia, ngoài hệ thống chùa chiền, bảo tháp, thì các cung điện, hoàng thành… đều là những công trình kiến trúc mỹ thuật mang đậm chất Phật giáo. Thiền sư Vạn Hạnh đã tham mưu cho triều đình kết hợp phong thủy địa lý với văn hóa tư tưởng Phật giáo trong việc xây dựng kinh thành Thăng Long, chúng ta sẽ thấy ở đó là những ngôi chùa được xây dựng đều khắp kinh thành cũng như ngay trong nội cung để các vua Lý nghiên cứu giáo lý, tĩnh tâm tham thiền, những công trình kiến trúc đặc biệt này hiển nhiên được hình thành từ suy tư trăn trở của thiền sư Vạn Hạnh đối với vận mệnh lâu dài và bền vững của dân tộc. Về phương diện giáo dục, các thiền sư thời nhà Lý rất coi trọng vấn đề giáo dục phẩm chất đạo đức cho con người, các ngài không chỉ mở trường dạy cho Tăng chúng mà còn dạy cho quần chúng Phật tử, không chỉ dạy cho tín đồ Phật giáo mà còn dạy cho những người theo đạo Nho, đạo Lão. Thiền sư Vạn Hạnh đã đào tạo nên Lý Công Uẩn tại chùa Lục Tổ, thiền sư Trí ở núi Cao Dã đã đào tạo nên Tô Hiến Thành, Ngô Hòa Nghĩa, đây là những bậc anh tài kiệt xuất trong lịch sử dân tộc… Các thiền sư thời nhà Lý am tường cả tam giáo lẫn các môn khoa học xã hội, trên nền tảng suốt thông bởi nguồn tuệ giác, các ngài đã uyển chuyển vận dụng kiến thức Nho giáo và khoa học xã hội vào các chính sách trị quốc an dân, nhờ đó đã rất thành công trong vai trò quân sư, cố vấn. Vào thời Lý, sự gần gũi và gắn kết giữa vua với quần thần, giữa vua quan với dân chúng, giữa đồng bào trong làng xóm thôn ấp đều hết lòng yêu thương bảo bọc cho nhau, điều đó đã nói lên mức độ ảnh hưởng nền đạo đức và văn hóa tâm linh của Phật giáo rất là to lớn và sâu rộng. Học giả Hoàng Xuân Hãn đã ghi nhận điều này trong cuốn Lý Thường Kiệt rằng: “Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Đó chính là ảnh hưởng của đạo Phật”. Còn thiền sư Pháp Thuận, một trong hai vị Tăng sĩ kiến tạo nên triều đại nhà Lý đã tóm lược nền đạo đức truyền thống dân tộc hòa quyện với văn hóa tâm linh của Phật giáo, đưa đất nước Đại Việt vượt lên tầm cao mới, với bốn câu thơ súc tích như sau:

                                                        “Vận nước như dây quấn

                                                          Trời Nam ôm thái bình

                                                          Đạo đức ngự cung điện

                                                          Muôn xứ hết đao binh”.

Khái quát sơ lược điều này để tất cả chúng ta một lần nữa khẳng định rằng sự hiện diện các nhà sư trong bộ máy chính quyền trung ương dưới triều đại nhà Lý là tinh thần nhập thế cao cả và đầy trách nhiệm của đạo Phật đối với dân tộc. Việc các thiền sư trực tiếp tham gia vào guồng máy chính quyền thời Lý thông qua các chính sách trị quốc an dân đầy lòng từ bi nhân ái, khoan dung độ lượng, đã nói lên tinh thần vị tha vô ngã của đạo Phật và làm nổi bật nền đạo đức cũng như trí tuệ siêu việt của đạo Phật …

Từ khi du nhập vào đất nước ta, đạo Phật đã nhanh chóng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần của người dân, ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt trong đời sống xã hội. Vào triều Lý, tư tưởng từ bi phổ độ chúng sanh của đạo Phật cùng nền đạo đức truyền thống, thương yêu đồng loại của dân tộc Việt Nam đã được phát huy cao độ và đã hun đúc nên chủ nghĩa nhân đạo, phát huy tối đa tính nhân văn trong cách ứng xử của người dân Việt. Chính nhờ các vị vua nhà Lý tin sâu nhân quả, thâm tín Phật pháp, nên nguồn tuệ giác và tư tưởng đạo đức từ bi phổ độ chúng sanh của đạo Phật đã được dàn trãi trong toàn bộ chính sách đường lối trị quốc an dân của triều đình nhà Lý.

Lòng yêu dân như con cùng với nền “đức trị” chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi đạo Phật, rất nhân từ và sáng suốt của triều đình nhà Lý, đã giúp cho dân chúng có được một đời sống ấm no hạnh phúc, đất nước thái bình thạnh trị, nhờ đó mà nhà Lý đã trị vì thiên hạ trên 200 năm, để lại cho nhà Trần một tài sản vô giá, đó là nền tảng đạo đức và tâm linh đã bén rễ sâu chắc trong đời sống từ hoàng cung cho đến chốn nhân gian, cũng nhờ đó mà nhà Lý đã dễ dàng phá tan quân Tống hùng mạnh ở phương Bắc và gặp nhiều thuận lợi khi  quân chinh phạt Chiêm Thành và Chân Lạp ở phương Nam. Kể từ đây đất nước Đại Việt ngày càng hùng mạnh, uy danh Đại Việt ngày càng lừng lẫy…

3.Vai trò của Phật giáo thời nhà Trần đối với công cuộc phát triển đất nước Đại Việt:

Nếu như Phật giáo thời nhà Lý là sự phát triển khởi đầu đáng ghi nhận với nhiều thuận lợi bởi các vua Lý đều là những Phật tử thuần thành, các vua Lý đã cống hiến rất nhiều cho Phật giáo, từ việc xây chùa độ Tăng đến các chính sách trị quốc an dân được thực thi trên nền tảng trí tuệ và từ bi từ giáo lý nhà Phật… thì Phật giáo đời Trần là một sự kế thừa và phát triển rực rỡ huy hoàng nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, bởi các vua Trần không chỉ là những Phật tử thuần thành mà còn là những hành giả đích thực thâm chứng Phật pháp. Hành trạng nhập thế độ sanh của các vua Trần là hình ảnh sinh động phản ảnh toàn bộ bức tranh xán lạn của Phật giáo thời kỳ này. Tuy nhiên trước khi nói đến vai trò của Phật giáo thời nhà Trần đối với công cuộc phát triển đất nước Đại Việt, chúng tôi thiết nghĩ, cũng cần điểm qua vài nét về tình hình Phật giáo thời nhà Trần.

3.1 Vài nét về Phật giáo thời nhà Trần:

Khi đọc qua lịch sử, điều cảm nhận đầu tiên của chúng tôi là các vua Trần đều là những Phật tử đặc biệt, họ học Phật rất chuyên chú, đều là những hành giả thực thụ của thiền tông, do vậy chúng tôi chủ quan cho rằng, nét đặc thù đầu tiên của Phật giáo thời Trần là sự phát huy tối đa tinh thần tự giác tu tập trên hai phương diện tĩnh thức và tinh chuyên, nhờ vậy mà các vua Trần trong thời kỳ đầu đều chứng đạo. Từ sự chứng ngộ đó đã đưa đến sự thống nhất các thiền phái, xây dựng nên một giáo hội Phật giáo mới gọi là giáo hội Trúc Lâm.

Thiết nghĩ nhân đây cũng nên có vài dòng nói đến khởi nguồn sự hợp nhất các thiền phái tại nước ta vào thời kỳ này, để từ đó hình thành nên Giáo hội Trúc Lâm, một giáo hội Phật giáo đầu tiên trong lịch sử Phật giáo nước nhà. Theo lịch sử thì thiền sư Thường Chiếu thuộc phái Vô Ngôn Thông là người khởi đầu cho sự tổng hợp ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, được xem là gạch nối giữa Phật giáo thời nhà Lý và thời nhà Trần. Thiền sư Thường Chiếu có ba người đệ tử quan trọng là thiền sư Hiện Quang, Thông Thiền và Thần Nghi, từ những thiền sư này đã đào tạo nên một đội ngũ Tăng chúng và cư sĩ thật tu thật chứng làm rạng rỡ tông môn, nhờ đó mà mạng mạch Phật pháp tương tục không gián đoạn, thiền môn hưng thịnh hơn bao giờ hết. Các vị vua nhà Trần như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, cũng như Tuệ Trung Thượng Sĩ… đều là hàng đệ tử đắc pháp từ hàng môn đệ của thiền sư Thường Chiếu. Nhờ sư thâm chứng Phật pháp và uy tín lớn lao của vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ và nhất là sự sát nhập các thiền phái từ thời thiền sư Thường Chiếu, nên đã dẫn đến sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của thiền phái Yên Tử để rồi từ đó hình thành nên thiền phái Trúc Lâm. Đây là thiền phái duy nhất thời nhà Trần, được gọi là thời đại Phật giáo Nhất Tông. Đến khi vua Trần Nhân Tông chính thức xuất gia làm Tăng sĩ thì Giáo hội Trúc Lâm chính thức ra đời, đánh dấu thời kỳ mở đầu của Giáo hội Phật giáo Viện Nam.

3.2  Vua Trần Nhân Tông không chỉ là Phật tử thuần thành, mà là Tăng sĩ với vai trò lãnh đạo giáo hội:                

Trong lịch sử nước ta hiếm có một thời đại nào một vị vua lại hoàn toàn không muốn làm vua, chỉ mong ước được làm một ông Tăng để có điều kiện tập trung tu học Phật pháp, nhưng sự việc này lại xảy ra, đó là vua Trần Thái Tông, vị vua khởi đầu triều đại nhà Trần. Lịch sử ghi lại rằng, năm 20 tuổi, Trần Thái Tông đã từng trốn khỏi hoàng cung lên núi Yên Tử để diện kiến Thiền Sư Trúc Lâm (tức Đạo Viên) xin được xuất gia làm đệ tử, như lời nhà vua đã ghi trong lời tựa cuốn Thiền Tông Chỉ Nam: “Trẫm còn thơ ấu đã sớm mất mẹ cha, chơ vơ đứng giữa sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường, cho nên trẫm mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật chứ chẳng muốn tìm gì khác”. Vua Trần Thái Tông ở ngôi vua mà không màng đến vinh hoa phú quý, vừa làm tròn chức trách của một đấng quân vương lại vừa liễu ngộ Phật pháp ngay khi còn ngồi ở ngai vàng. Có thể nói đây là một nhân cách lớn của dân tộc Việt Nam và của Phật giáo Việt Nam. Sinh thời ông đã trước tác nhiều tác phẩm rất giá trị như Thiền Tông Chỉ Nam, Kim Cang Tam Muội Kinh chú giải, Lục Thời sám Hối Khoa Nghi, Bình Đẳng Lễ Sám Văn, Khóa Hư Lục, Phổ khuyến Phát Bồ Đề Tâm… khi đọc qua những tác phẩm này, người đọc sẽ nghĩ rằng tác giả là một thiền sư chứ ít ai nghĩ là một ông vua. Vua Trần Thái Tông trị vì được 32 năm, rồi nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông để làm Thái Thượng Hoàng, ông trụ thế được 60 năm.

Vua Trần Thánh Tông là một Phật tử có đạo hạnh đặc biệt, tin sâu Tam Bảo, là bậc đế vương nhưng ông phát tâm trường trai chay lạt và để tâm rất nhiều vào việc học Phật, về sau ông đắc pháp với thiền sư Đại Đăng. Ông đã có công đánh tan tập đoàn quân Nguyên Mông do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích tràn sang xâm lược nước ta.

Vua Trần Nhân Tông tên là Trần Khâm, con của vua Trần Thánh Tông, sinh năm 1258, lên ngôi năm 20 tuổi, xuất gia năm 41 tuổi, viên tịch năm 51 tuổi (1308). Năm lên ba ông được vua cha gởi cho Tuệ Trung Thượng Sĩ, một thiền sư thâm chứng Phật pháp sống tự tại giữa cuộc đời dưới hình thức một cư sĩ. Thuở nhỏ ông không muốn làm vua, một mực đòi nhường ngôi đông cung thái tử cho em. Khi còn là thái tử, ông đã chay lạt thanh tịnh, chuyên tâm học Phật, tinh tấn tham thiền.. Đến khi lên ngôi, ông càng nỗ lực tu học, tinh tấn tham thiền với các bậc cao tăng thạc đức, nhờ đó ông đã chứng  ngộ. Vào năm 1299, vua Trần Nhân Tông xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà, sau đổi lại là Trúc Lâm Đầu Đà (trùng hiệu với Quốc Sư Trúc Lâm – Đạo Viên). Vua Trần Nhân Tông là Tổ thứ 6 của thiền phái Yên Tử và là Sơ Tổ thiền phái Trúc Lâm. Từ khi vua Trần Nhân Tông xuất gia, thiền phái Yên Tử trở nên nổi tiếng, uy tín vang dội bốn phương, bởi một ông vua đã từng đánh tan đoàn quân xâm lược Nguyên Mông, đem lại hòa bình thạnh trị cho đất nước, lại trở thành một Tăng sĩ đầu đà khổ hạnh đi khắp mọi nơi hoằng dương Phật pháp, điều này đã làm tăng thêm sự kính ngưỡng của người dân đối với đạo Phật. Lịch sử đã ghi nhận vua trần Nhân Tông là một nhà chính trị tài ba nhưng đồng thời cũng ghi nhận ông là một thiền sư lỗi lạc, một nhà lãnh đạo quan trọng và uy tín của Phật giáo trong suốt một ngàn năm qua. Sau khi hoàn thành trọng trách đối với dân tộc trên cương vị của một bậc quân vương, thì suốt cuộc đời làm Tăng của vua Trần Nhân Tông là một chuỗi ngày hoạt động tích cực và hiệu quả cho sự phát triển của giáo hội cũng như công cuộc hoằng hóa độ sanh. Ngoài thời gian kiết hạ hằng năm, ông đi khắp nơi khuyên bảo mọi người làm lành lánh dữ, giữ gìn ngũ giới, tu hành thập thiện, vì ông là nhân vật lỗi lạc nên lời khuyên của ông có tác dụng rất lớn, được mọi người tin cậy noi theo. Chính tinh thần nhập thế độ sanh của vua Trần Nhân Tông đã tạo ra ảnh hưởng rất lớn trong đời sống đạo đức xã hội, tạo ra một đời sống thái bình an lạc cho muôn dân. Với chủ trương xây dựng một xã hội an lạc ổn định, thì tinh thần nhập thế của vua Trần Nhân Tông được xem là rất thành công và ấn tượng, trong thời kỳ mà chính quyền nhà nước có một ông vua đương vị rất nhiệt tình ủng hộ Phật pháp và một ông vua cha vừa là Thái Thượng hoàng làm cố vấn chính trị, vừa là một Tăng sĩ du phương hóa độ chúng sanh, thì thử hỏi đất nước không thái bình thạnh trị làm sao được? Đây là một sự kiện đặc biệt chưa từng có trong lịch sử nước nhà và cả lịch sử nhân loại.

Công cuộc đem đạo vào đời một cách tích cực của vua Trần Nhân Tông đã không ngừng nâng cao vị thế nhà Trần, củng cố triều đại, tạo ra sự an lạc thật sự trong đời sống nhân dân là những dấu ấn sinh động của Phật giáo thời nhà Trần.

Kế vị vua Trần Nhân Tông là vua Trần Anh Tông, ông cũng rất sùng kính đạo Phật, việc vua Trần Anh Tông thọ Bồ Tát Giới tại gia đã thu hút rất nhiều vương công quan lại trong triều thọ Bồ Tát Giới tại gia, số đông khác quy y Tam Bảo, thọ trì ngũ giới. Ông là người đầu tiên của nước ta thỉnh Đại Tạng Kinh tại Trung Hoa về tôn thờ và cho khắc bản pho kinh tạng lớn nhất này. Ngoài ra vua Trần Anh Tông đã cúng dường rất nhiều ruộng đất và bảo vật quý giá cho các chùa trong giáo hội Trúc Lâm.

Đến đời vua Trần Minh Tông cũng chú tâm học Phật, chay lạt thanh tịnh, nhiệt thành ủng hộ Phật sự của giáo hội… Trên đây là vài nét tiêu biểu về sự thâm tín Phật pháp của các vua Trần. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến vai trò của Phật giáo thời nhà Trần đối với việc phát triển đất nước Đại Việt.

Nói đến Phật giáo thời nhà Trần, ngoài các vị vua Trần, thiết nghĩ cũng nên nhắc đến hai vị thiền sư có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự tu tập của Tăng Ni Phật tử và sự phát triển của giáo hội Trúc Lâm. Đó chính là Tuệ TrungThượng Sĩ và nhị tổ Pháp Loa. Thiền sư Pháp Loa đã phụng chỉ của vua Trần Anh Tông đề ra những quy định chức vụ trong giáo hội và đặc biệt là thực hiện làm sổ Tăng tịch để chứng nhận sự hiện diện của Tăng Sĩ trong giáo hội. Có thể nói đây là lần đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam, Tăng sĩ có hồ sơ tại Giáo hội Trung Ương. Chính nhờ vậy mà giáo hội đã có thể thống kê số lượng và giám sát sự tu học của chư Tăng, từ đó có định hướng tích cực, kịp thời trong việc nâng cao chất lượng tu hành cũng như hoằng pháp. Dưới thời thiền sư Pháp Loa lãnh đạo, giáo hội Trúc Lâm có đến 15 ngàn Tăng sĩ, xây trên 100 ngôi chùa và hoàn thành chu toàn rất nhiều Phật sự quan trọng khác, để thành tựu được điều này phải nói đến sự tận tình ủng hộ Phật pháp của vua Trần Anh Tông.

3.3 Những đóng góp tiêu biểu của Phật giáo thời Trần đối với đất nước:

Trước khi nói đến vai trò của Phật giáo đối với việc phát triển đất nước Đại Việt , chúng tôi xin trình bày vắn tắt những đóng góp tiêu biểu của Phật giáo thời nhà Trần. Về phương diện văn học, Phật giáo đời nhà trần đã để lại cho dân tộc một kho tàng văn học rất có ý nghĩa và vô cùng quan trọng đối với những ai có nhu cầu tĩnh thức tâm linh. Nổi bật lên là công trình khắc bản bộ Đại Tạng Kinh vào thời vua Trần Anh Tông, đã làm phong phú thêm kho tàng văn học cổ nước nhà. Các nhà sư và các vua Trần là những nhà học Phật uyên bác, tinh thông Nho học, phần lớn tác phẩm của họ đều có nội dung cảnh sách người đời hướng về con đường chân thiện, tiến đến giải thoát giác ngộ. Không gian văn học thời nhà Trần còn có thiền sư thi sĩ Huyền Quang, Tam tổ thiền phái Trúc Lâm, ông rất yêu hoa cúc, ngoài việc tụng kinh tham thiền ông còn thôi sáo ngâm thơ, ông để lại cho đời những bài thơ tràn đầy thiền vị.

Về phương diện kiến trúc, Phật giáo nhà Trần tập trung xây dựng cơ sở chùa chiền tịnh viện để phục vụ sự tu học ngày càng đông của chư Tăng trong giáo hội Trúc Lâm. Chỉ riêng thời nhị tổ Pháp Loa đã xây dựng được hàng trăm ngôi chùa, trong đó nổi tiếng với hai cơ sở Quỳnh Lâm và Báo Ân. Bên cạnh đó, hình thành một hệ thống bảo tháp do các vua Trần cúng dường. Tại các thôn ấp làng xã, dân chúng cũng đã tự cất chùa để thờ phượng, dù không nằm trong hệ thống các chùa chiền của giáo hội Trúc Lâm, nhưng sự hiện diện của các chùa chiền am cốc tự phát trong nhân dân vào thời Trần, ngoài việc thờ phượng tín ngưỡng, nó còn được xem như là những trung tâm văn hóa có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng đời sống tinh thần thanh cao giải thoát trong quần chúng. Đây cũng là một trong những đóng góp tiêu biểu, tích cực và hiệu quả của Phật giáo đời nhà Trần đối với việc nâng cao đời sống đạo đức cũng như góp phần không nhỏ vào trật tự an ninh xã hội.

Về phương diện ngoại giao, vua Trần Nhân Tông khi làm Thái thượng hoàng, đồng thời với tư cách là một Tăng sĩ, ông đã đến Chiêm Thành để quan sát tình hình Phật giáo tại đây, tuy nhiên thực chất mục đích chuyến đi này là để xây dựng tình hữu nghị giao hòa lâu dài cho hai đất nước Việt - Chiêm. Sau lần tiếp xúc thân mật với vua Chiêm là Chế Mân, Trần Nhân Tông đã hứa gã công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm, bù lại đất nước Đại Việt có thêm hai châu Ô và châu Lý được xem là sính lễ của vua Chiêm, sau này châu Ô và châu Lý được nhà Trần đổi tên là châu Thuận và châu Hóa. Cùng với việc mở mang bờ cõi phương Nam, các nhà chính trị Phật tử đời Trần đã hai lần đánh tan đoàn quân xâm lược Nguyên Mông nổi tiếng là bất bại trên khắp các chiến trường Trung Á.

3.4 Vài nét vai trò của Phật giáo đối với việc phát triển đất nước thời nhà Trần:

Vào thời hậu Lý, nếu các vua Lý rất cần sự hiện diện của các thiền sư để cùng đảm dương trọng trách quốc gia, bởi họ rất uyên bác trên nhiều lãnh vực. Tuy nhiên đến đời nhà Trần thì các vua Trần đều là những bậc trí giả, tinh thông cả Nho lẫn Phật, hơn thế nữa, họ còn là những hành giả thực thụ của thiền tông và đều thâm chứng Phật pháp như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông; chính vì vậy mà Phật giáo đóng một vai trò chủ lực cực kỳ quan trọng trong việc phát triển đất nước Đại Việt. Ở đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, vai trò đầu tiên của Phật giáo là xây dựng nền tảng đạo đức và luân lý Phật giáo trong toàn dân, tạo mối đại đoàn kết sâu rộng trong mọi tầng lớp xã hội. Nhà Trần đã thành công trong việc liên kết nhân tâm từ vua quan đến thường dân, để thực hiện công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Điểm nổi bật trong thời đại Trần Nhân Tông là thời kỳ Phật giáo cực kỳ hưng thịnh, điều đáng ghi nhận là dù nền chính trị xã hội được xây dựng trên tinh thần từ bi, đạo đức, khoan dung của đạo Phật, nhưng trật tự xã hội vẫn ổn định, mọi hình thức tiêu cực dường như sẽ dễ phát sinh dưới một nền pháp luật thiên về đức trị nhưng điều này lại không xảy ra, ngược lại đất nước ngày càng thái bình an lạc. Với tinh thần yêu nước, luôn đồng hành cùng dân tộc, luôn hướng về tổ tiên nguồn cội, Phật giáo đời nhà Trần dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các vua Trần, đã gắn chặt khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tất cả cùng hướng về mục tiêu cao cả là phát huy truyền thống tự lực tự cường của dân tộc, bảo vệ vững chắc giang sơn xã tắc Đại Việt, điều này đã được thể hiện qua Hội nghị Diên Hồng do chính vua Trần Nhân Tông đứng ra hiệu triệu và tất cả đều đồng lòng chung sức cùng triều đình quyết tâm đánh tan giặc ngoại xâm. Từ đạo hạnh đến ý chí tu học đạt đến kết quả giác ngộ của các vua Trần đã tạo nên uy tín và bản lãnh của những nhà lãnh đạo đất nước vốn là những Phật tử thuần thành. Điều này tạo sự ảnh hưởng rất lớn cho Phật giáo, nhờ đó đã quy tụ về giáo hội những nhân tài kiệt xuất cùng góp phần làm rạng rỡ non sông Đại Việt. Thời đại nhà Trần, nói đến Phật giáo là nói đến dân tộc, nói đến dân tộc là nói đến Phật giáo. Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng, Phật giáo đời Trần là nền Phật giáo độc lập, nó phục vụ cho dân tộc Việt, duy trì bồi đắp phẩm chất Việt, phát huy nội lực của dân tộc Việt, đây là điểm sáng lung linh làm nổi bật lên vai trò đồng hành và gắn kết của Phật giáo với dân tộc dưới thời nhà Trần đối với việc phát triển đất nước Đại Việt.

Từ hành trạng của các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và đặc biệt là Trần Nhân Tông đã nêu bật lên tính nhập thế hết lòng phụng sự dân tộc của đạo Phật, đã định hướng một đời sống tâm linh dồi dào nội lực cho cả một dân tộc, làm nền tảng cho sự bền vững đạo đức, là cơ sở vững chắc để phát triển đất nước, đồng thời tạo kế lâu dài cho sự nghiệp triều đại nhà Trần. Lịch sử Phật giáo đã ghi lại lời quốc sư Trúc Lâm (tức thiền sư Đạo Viên hay Viên Chứng) giáo huấn vua Trần Thái Tông về bổn phận của một nhà chính trị khi đã là một Phật tử: “Đã là người phụng sự dân thì phải lấy cái muốn của dân làm cái muốn của mình, phải lấy ý dân làm ý mình, trong khi đó không được xao lãng việc tu học của bản thân”. Hay như vua Trần Nhân Tông đã khẳng định đường lối trị nước của mình: “Nhà chính trị phải thực hiện đạo Phật trong xã hội”. Để thực hiện điều này, vua Trần Nhân Tông đã đi khắp làng quê đến phố thị khuyên dân chúng phá bỏ lầu xanh kỷ viện, giữ gìn ngũ giới, tu hành thập thiện. Bên cạnh nỗ lực của các vua Trần là cả một triều đình ủng hộ Phật giáo, thời bấy giờ nhờ ảnh hưởng của các ông vua Phật tử mà cả Nho giáo lẫn Lão giáo cũng dung hòa theo Phật giáo khi nhận ra những lợi ích lớn lao mà Phật giáo đã đem lại cho dân tộc. Các vua Trần Thái Tông và Trần Thánh tông đã chủ động mở rộng Nho học, để đạo Lão và đạo Nho tự do phát triển. Có thể nói đây cũng là những ưu điểm của Phật giáo nhà Trần trên tinh thần tự do và khoan dung đặc biệt. Chính sự linh động mềm dẻo và khoan dung này mà các vua Trần đã nhận được sự đồng tâm hiệp lực của khối đại đoàn kết dân tộc, tất cả đều hết lòng cùng triều đình chống lại giặc ngoại xâm, hết lòng phụng sự tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước. Về phương diện chính trị, các vua Trần thực chất đa phần đều là những hành giả của thiền tông Phật giáo, thân thì làm vua nhưng tâm họ vốn đã xuất gia, nói như vậy để chúng ta dễ dàng nhận ra nền chính trị nhà Trần là nền chính trị được thực thi bởi tư tưởng và tinh thần Phật giáo từ những người con Phật ngồi ở ngai vàng và giáo hội Phật giáo chính là chiếc cầu nối vô cùng quan trọng để các vua Trần liên kết nhân tâm. Nhờ ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng từ bi và tinh thần vị tha vô ngã của đạo Phật nên nền chính trị nhà Trần áp dụng đã thể hiện rõ ba nét đặc trưng: Bình dị, Thân dân, Dân chủ. Tinh thần bình dị, thân dân, dân chủ được các vua trần áp dụng triệt để, năm 1284, trước vó ngựa dần dập của quân xâm lược Nguyên Mông, vua Trần Nhân Tông đã tổ chức Hội nghị Diên Hồng mời tất cả bô lão gần xa đến tham dự để nhà vua được nghe tiếng nói của dân. Hoặc mỗi khi có việc phải ra ngoài thành, thay vì tiền hô hậu ủng thì các vua Trần sống rất đơn giản, nhà vua thường dừng lại ân cần hỏi thăm dân chúng, chào hỏi những bậc cao niên. Vào những năm mất mùa, dân tình lâm cảnh thiếu trước hụt sau, nhà vua ngoài việc ủy lạo còn đứng ra vận động những nhà giàu có đóng góp lúa gạo để phát cho dân nghèo, thậm chí còn chế cả thuốc men để chữa bệnh cho dân. Cũng như thời Hậu Lý, nền chính trị thời nhà Trần được xây dựng trên căn bản đức trị, thể hiện tinh thần từ bi, khoan dung, độ lượng. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi lại câu chuyện “Hoàng Cự Đà không được ăn xoài” rất thâm thúy thể hiện sâu sắc đầu óc chính trị và lòng từ bi của vua Trần. Chuyện kể: “Một hôm vua Trần Thái Tông cho các quan hầu cận ăn xoài, tuy nhiên hôm đó lại thiếu sót phần xoài của viên quan có tên Hoàng Cự Đà. Khi giặc Nguyên đến bến Đông, thì Hoàng Cự Đà lẻn ngồi lên xuồng nhẹ bỏ trốn. Trên đường gặp hoàng thái tử. Hoàng Cự Đà né tránh sang hướng khác. Quan quân rượt theo hỏi quân Nguyên ở đâu? Hoàng Cự Đà trả lời: “Không biết”, rồi nói: “Đi mà hỏi bọn ăn xoài”. Sau khi đánh tan giặc Nguyên, thái tử tâu vua Trần Thái Tông trừng phạt Cự Đà về tội bất trung để răn đe những kẻ làm tôi. Khi nghe việc này, vua Thái Tông nói: “Cự Đà tội đáng chết cả họ, song việc Cự Đà bất trung có phần lỗi của ta, nay ta tha tội chết, để cho đánh giặc mà chuộc tội”. Hay như chuyện vua Trần Thánh Tông đốt tài liệu xin hàng giặc của các quan khi quân Nguyên xâm lược nước ta: “Khi thế quân Nguyên rất mạnh, triều đình có nhiều kẻ hai lòng, tự lập giấy tờ giao thiệp với giặc. Sau khi đánh tan giặc Nguyên, triều đình thu được một tráp biểu xin hàng của các quan. Triều đình muốn đem chuyện này ra trị tội, nhưng thượng hoàng nghĩ rằng, làm tội những kẻ tiểu nhân cũng vô ích, bèn sai người đem đốt hết cả tráp biểu xin hàng đó để cho mọi người được yên lòng”. Có thể nói trên đây chỉ là một vài trong vô số phương cách trị quốc an dân của vua Trần, mà ở đó, đức từ bi và khoan dung luôn ngự trị trong đường lối chính trị của triều đại nhà Trần. Các vua Trần là những Phật tử chân chính, thâm nhập Phật pháp rất sâu sắc, họ phụng sự đạo Phật hết lòng giống như phụng sự dân tộc. Chính vì vậy mà Phật giáo đóng vai trò tư tưởng chủ đạo xuyên suốt đường lối chính trị của nhà Trần. Tư tưởng từ bi cứu khổ, đạo đức vị tha, hạnh giải thoát vô ngã đã ảnh hưởng rất sâu sắc trong đường lối chính trị mà các vua Trần đã vận dụng hiệu quả trong suốt gần 200 năm trị vì thiên hạ.

Tóm lại, thời đại nhà Trần, các vua Trần đã thừa nhận vai trò ổn định trật tự xã hội của đạo Phật thông qua việc giáo dục nhân cách đạo đức con người, áp dụng giáo lý nhà Phật để làm kim chỉ nam trong việc giáo dục phẩm chất cho vương công quan lại và khơi nguồn đạo đức trong nhân dân, để từ quan đến dân thấm nhuần đời sống đạo đức, tin sâu nhân quả nghiệp báo, tỏ rõ lý vô thường, đồng thời lấy đó làm phương tiện trị quốc an dân, nhờ đó đã tạo ra những bước tiến vượt trội trong sự nghiệp phát triển triều đại nhà Trần. Từ việc ngưỡng mộ Phật giáo, đến việc quy y Tam Bảo, công phu hành đạo và ứng dụng giáo lý của đạo Phật một cách sinh động vào đời sống thực tiễn, các vua Trần đã tạo ra mối quan hệ gắn bó và tin cậy lẫn nhau giữa vua quan với dân chúng, dựa vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân, các triều đại nhà Trần đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nặng nề mà lịch sử giao phó, đó là đánh bại tập đoàn quân xâm lược Nguyên Mông vốn được xem là đoàn quân bất bại trên khắp chiến trường Trung Á, củng cố và xây dựng đất nước ngày càng hùng cường giàu mạnh. Qua đó, có thể nói, nhờ ảnh hưởng sâu sắc giáo lý Phật đà mà tư tưởng yêu nước, xây dựng đất nước, phát triển đất nước đã trở thành tư tưởng chủ đạo xuyên suốt, không những góp phần gìn giữ vững chắc độc lập chủ quyền cho đất nước mà còn mở ra những trang sử chói lọi trong sự nghiệp phát triển nước nhà.

4.Vai trò của Phật giáo đối với đất nước sau thời nhà Trần:

Sau thời kỳ cực thịnh của Phật giáo Việt Nam, là thời kỳ suy giảm, khi nhà Hậu Lê lên cầm quyền, đã tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo. Đến đời vua Tự Đức thì Việt Nam mất chủ quyền, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, Phật giáo trở nên suy vi, vì chính quyền Pháp đã du nhập đạo Ky-tô vào Việt Nam, và dùng đạo này như một công cụ  hỗ trợ đắc lực âm mưu thôn tính Việt Nam. Kể từ đó cho đến mãi cuối thế kỷ 19, với nhiều biến động của thời cuộc đã ảnh hưởng không ít đến sự phát triển của Phật giáo. Dù dân tộc Việt Nam có trải qua những bước thịnh suy và Phật giáo Việt Nam có thăng trầm thế nào đi chăng nữa, thì nguồn sống đạo đức trong lòng dân tộc và mạng mạch Phật pháp vẫn ngấm ngầm trong hàng triệu triệu trái tim người Phật tử Việt Nam. Bước qua thế kỷ 20, Phật giáo Việt Nam bắt đầu phục hưng trở lại, vào những năm 30 của thế kỷ trước, các hội Phật giáo ở Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ lần lượt ra đời, hoạt động sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, tạo nền luồng gió mới trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Đặc biệt là đến thời đại Hồ Chí Minh lịch sử, Phật giáo Việt Nam một lần nữa chuyển mình sang giai đoạn có thể nói là huy hoàng xán lạn.

Vào cuối đời Trần, khoảng giữa thế kỷ 14, vai trò Phật giáo trở nên mờ nhạt và suy sụp theo triều đại nhà Trần, nhường chỗ cho những ảnh hưởng từ Nho giáo và các thế lực khác, nói là suy sụp, điều đó không có nghĩa là Phật giáo bị mất ảnh hưởng với quần chúng, vì bất cứ thời đại nào thì tư tưởng giác ngộ và tinh thần giải thoát của Phật giáo vẫn ăn sâu trong nếp sống, tình cảm và tín ngưỡng của người dân nước Việt, mà suy sụp ở đây là sự suy sụp trong vai trò lãnh đạo trí thức, văn hóa và chính trị. Nguyên nhân chính dẫn đến việc suy sụp trong vai trò lãnh đạo là các bậc cao Tăng thạc đức đều mai danh ẩn tích, lớp Tăng trẻ đắm mình trong lợi dưỡng nên chất lượng học Phật và hành trì của Tăng sĩ không còn như thời nhà Lý nhà Trần, hơn nữa duyên nghiệp của các thiền sư trong thời kỳ này gần như không thuận với con đường chính trị. Qua thời Lê – Mạc, khoảng giữa thế kỷ 17 là thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, đất nước Đại Việt chia làm hai miền Nam Bắc, dân tộc lâm cảnh huynh đệ tương tàn, nội chiến triền miên, tuy vậy trong thời kỳ này Phật giáo lại được phục hưng bởi vua Lê chúa Trịnh đều là tín đồ nhà Phật, họ cũng nhiệt tình ủng hộ Phật giáo nhưng để cầu may cầu lợi cho sự nghiệp chính trị chứ không phải áp dụng giáo lý nhà Phật vào sự tu hành hay vào con đường hòa giải, thống nhất đất nước. Chính vì vậy mà vai trò Phật giáo sau thời Lý – Trần trở nên mờ nhạt đối với sự nghiệp phát triển đất nước.

Từ thế kỷ 19 trở đi, thế lực chính trị chủ yếu ảnh hưởng từ Nho giáo, trong khi đó thực dân Pháp dùng con đường truyền đạo Ki Tô và hợp tác chặt chẽ với Cơ Đốc giáo làm bàn đạp cai trị nước ta. Trước sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Phật giáo lại một lần nữa chung sức đồng lòng tham gia kháng chiến cứu nguy dân tộc. Trong thời chống Pháp, nổi bật lên là cuộc khởi nghĩa của cư sĩ Võ Trứ vào năm 1898, ông là đệ tử của thiền sư Đá Bạc tu trong một hang động trên dãy Trường Sơn nằm giữa hai huyện Phù Cát và Phù Mỹ tỉnh Bình Định, thiền sư Đá Bạc đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc khởi nghĩa này là vận động khởi nghĩa chống thực dân Pháp khiến cho người Pháp gọi cuộc khởi nghĩa này là “giặc thầy chùa”. Kế đến là cuộc khởi nghĩa của Tăng sĩ Vương Quốc Chính nổ ra ở phía Bắc rải rác từ Nghệ An ra tới Bắc Ninh quy tụ hàng vạn nghĩa quân là Phật tử. Cuộc tấn công thực dân Pháp tại Hà Nội vào đêm 5.12.1898 thất bại, khiến cho hàng ngàn Tăng Ni Phật tử bị bắt bớ tù đày, trong số đó có nhiều người bị giặc Pháp xử tử. Những cuộc khởi nghĩa bộc phát vì lòng căm thù giặc sâu sắc của Tăng sĩ Vương Quốc Chính và Phật tử Võ Trứ chỉ mang tính cá nhân, đơn lẻ, hoàn toàn không phải do Tăng chúng khởi xướng, càng không phải do giáo hội Phật giáo vận động, vì chủ trương của Phật giáo từ bao đời nay là “bất bạo động”. Tuy nhiên qua hai cuộc khởi nghĩa điển hình này đã cho chúng ta thấy rằng, Tăng Ni Phật tử luôn hướng về dân tộc, sẵn sàng chấp nhận hy sinh xương máu để bảo vệ tổ quốc. Những cuộc khởi nghĩa hay đấu tranh vì quyền lợi dân tộc, nếu có người lãnh đạo thì Tăng Ni Phật tử luôn sẵn sàng nhập cuộc dù phải chấp nhận hy sinh, nói như vậy để có thể thấy rằng, Phật giáo Việt Nam dù ở thời đại nào, lâm vào hoàn cảnh nào thì cũng luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, điều này càng khẳng định khi thế lực thực dân Pháp quá mạnh, khiến cho phong trào Cần Vương kháng chiến chủ yếu là thành phần Nho sĩ, bị tiêu hao sinh lực đành phải lui về ẩn sau trong lòng quần chúng. Điều thú vị là “quần chúng” mà phong trào Cần Vương đặt niềm tin rất lớn và an toàn nhất lại là những ngôi chùa, ở đó họ được sự che chở đùm bọc tận tình của chư Tăng, chẳng hạn như các chí sĩ yêu nước Lương Văn Can, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Quyền, Trần Cao Vân thường hội họp ở các chùa Trấn Quốc, Hà Mã, Liên Phái để tránh sự dòm ngó của thực dân Pháp. Đến đầu thế kỷ 20, Phật giáo Viện Nam được chấn hưng trở lại, mọi hoạt động đều tập trung vào công tác giáo dục và hoằng pháp, xây dựng lại cơ sở tu học, ổn định nhân sự, nên vai trò của Phật giáo đối với đất nước chỉ thiên về hỗ trợ tâm linh và đạo đức . Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có những vị Tăng nhiệt tình tham gia cách mạng để thỏa lòng thực hiện hoài bão đóng góp cho dân tộc, trong đó phải kể đến sư Thiện Chiếu và sư Trí Thiền, hai nhà sư này đều từng bị giặc Pháp đày đi Côn Đảo… Sau cách mạng tháng 8 thành công, toàn dân tộc phải lao vào cuộc trường kỳ kháng chiến lâu dài với quân xâm lược Pháp và chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội năm châu đã một lần nữa khẳng định ý chí quật cường hào hùng của dân tộc. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời chia cắt hai miền Nam Bắc, tại miền Nam, chế độ độc tài của gia đình Ngô Đình Diệm hết lòng nâng niu công giáo, dùng công giáo như một công cụ chống lại cách mạng, thẳng tay đàn áp Phật giáo một cách dã man vì cho rằng “Phật giáo chính là Cộng Sản”. Trong giai đoạn này, hàng ngàn ngôi chùa trên khắp miền Nam bị chính quyền Ngô Đình Diệm ra tay đập phá, hàng chục ngàn Tăng Ni bị bắt bớ, tra tấn đánh đập dã man, thậm chí dùng cả xe tăng, lựu đạn và súng đại liên tàn sát tín đồ Phật giáo trước Đài phát thanh ở Huế một cách bạo tàn, điều này tạo nên luồng dư luận căm phẩn sâu sắc trên thế giới. Thời kỳ này, việc chính quyền Diệm, thực thi đạo dụ số 10 với nội dung chính là cô lập hoàn toàn mọi hoạt động của Phật giáo và sự cố tình vi phạm bảng Thông Cáo Chung được ký kết giữa Phật giáo và chính quyền Diệm, đã dấy lên cao trào đấu tranh đòi công bằng vì quyền lợi được tu hành của Phật giáo hơn bao giờ hết và điều này đã khiến cho chế độ họ Ngô sụp đổ một cách thê thảm. Cũng cần nói thêm trong thời gian này, trên khắp miền Nam đã có hàng chục Tăng Ni tự thiêu phản đối chế độ độc tài Ngô Đình Diệm và để cầu nguyện cho đất nước sớm hòa bình thống nhất, nổi bật lên là ngọn lửa của Bồ Tát Thích Quảng Đức đã làm rung động hàng triệu triệu trái tim yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Bước sang chế độ Nguyễn Văn Thiệu dù không dã man như chế độ Diệm trước đó, nhưng thực chất cũng chỉ là tay sai cho người Mỹ, ý thức được điều này, các vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam cũng như hàng triệu tín đồ Phật giáo đã hết lòng ủng hộ cách mạng, do vậy mà chùa chiền là nơi trú ẩn giao ban hội họp của cán bộ cách mạng, sư sãi nhiều người trực tiếp tham gia công tác ngay trong lòng địch, các cuộc xuống đường biểu tình của Phật giáo đòi chấm dứt chiến tranh, đòi hòa bình thống nhất đất nước, đó là những khẩu hiệu chung thay cho tiếng lòng của hàng triệu triệu trái tim người con Phật luôn hướng về sự tồn vong của đất nước, hướng về vận mạng của dân tộc. Vai trò của Phật giáo trong giai đoạn này đối với dân tộc rất là quan trọng, bởi Phật giáo đã thể hiện quyết tâm cao nhất của mình bằng sự gắn bó sắc son, đồng hành sâu sắc với dân tộc. Phật giáo đã đem hết khả năng để phụng sự dân tộc trong lúc nước nhà gặp cơn nguy biến.

Sau năm 1975, cuộc chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi vẽ vang, đất nước hòa bình thống nhất, Nam Bắc nối liền một dải, toàn dân tộc Việt Nam và hàng triệu người con Phật giờ đây đã thỏa niềm khao khát bấy lâu nay. Có thể nói đây cũng là nguồn cảm hứng sâu xa để Phật giáo nói chung và nơi cá nhân mỗi người con Phật đem hết khả năng của mình phụng sự đạo pháp và dân tộc.

Nhìn lại lịch sử , nếu nói nhà Lý là khởi đầu của sự phát triển Phật giáo Việt Nam, nhà Trần là sự thống nhất Phật giáo và là thời kỳ hưng thịnh tuyệt vời nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, thì Phật giáo trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử hiện nay, chúng tôi mạo muội cho rằng, đây cũng chính là thời kỳ Phật giáo nước nhà lặp lại chu kỳ đúng 1000 năm lịch sử dân tộc. 

Thật vậy, sau gần 1000 năm tụ tán thăng trầm, ngày nay Phật giáo Việt Nam đã được thống nhất thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nếu Phật giáo thời Trần có giáo hội Trúc Lâm là giáo hội của triều đình các vua Trần, thì nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng được sự quan tâm sâu sắc và hỗ trợ hết mình của Nhà nước, nhờ vậy mà Phật giáo có nhiều điều kiện hơn để tu hành và đóng góp cho đất nước. Chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy sự phát triển lớn mạnh của Phật giáo Việt Nam cũng như vai trò của Phật giáo Việt Nam đối với đất nước, thể hiện trong lãnh vực văn hóa xã hội, thông qua hai con đường hoằng pháp và giáo dục trải dài trong suốt 35 năm qua...

Thời gian qua, những đại trai đàn chẩn tế cầu siêu bạt độ cho hàng triệu triệu anh linh đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống trong hai cuộc kháng chiến cũng đã được Nhà nước và GHPGVN tổ chức tôn nghiêm trọng thể tại nhiều địa phương trong cả nước… Tất cả điều này thể hiện sự cảm thông, thấu hiểu và hòa hợp một cách sâu sắc giữa Phật giáo với dân tộc. Và gần đây nhất, từ ngày 15 đến 17/4/2010, Ban Chỉ Đạo kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội đã kết hợp với Thành hội Phật giáo TP. Hà Nội và chính quyền huyện Đông Anh, tổ chức lễ cầu siêu cho vua Lý Huệ Tông cùng 70 tôn thất nhà Lý tại khu vực bãi Sập và chùa Phúc Lâm (xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, TP.Hà Nội). Có thể nói, tất cả việc làm này đã nói lên sự đồng hành đầy trách nhiệm của Phật giáo đối với dân tộc, dù ở bất kỳ thời đại nào, vai trò của Phật giáo cũng luôn tăng cường sự gắn bó bền vững khối đại đoàn kết dân tộc, để đưa đất nước vươn lên những tầm cao mới. Cũng trong thời gian qua tại Việt Nam đã diễn ra rất nhiều sự kiện Phật giáo trọng đại như: Tổ chức Đại lễ Phật đản quốc tế tại Hà Nội năm 2008, các hội thảo khoa học Phật giáo có quy mô và chất lượng tầm cở quốc tế được tổ chức định kỳ, các phái đoàn Phật giáo trên thế giới liên tục viếng thăm Giáo hội Phật giáo và đất nước Việt Nam; cùng các sự kiện như rước xá lợi Phật do phó chủ tịch Phật giáo thế giới trao tặng đất nước Việt Nam, việc long trọng đón tiếp tượng Phật ngọc bích, việc xây dựng chùa Bái Đính quy mô hoành tráng nhất khu vực Đông Nam Á và hệ thống thiền phái Trúc Lâm của Hòa thượng Thích Thanh Từ được xây dựng quy mô trên cả nước cùng hàng ngàn Phật sự trọng đại khác, tất cả các Phật sự đều được Nhà nước quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi để Phật giáo Việt Nam hoàn thành sứ mạng hoằng hóa độ sanh của mình. Song song đó, Phật giáo Việt Nam cũng đã phát huy tối đa tinh thần nhập thế phổ độ chúng sanh, đóng góp không mệt mỏi trong các lãnh vực văn hóa, giáo dục, từ thiện xã hội và nhất là sự nghiêm túc hành trì tu học của chư Tăng Ni cùng hàng triệu tín đồ Phật tử,  nguồn sống đạo đức và tâm linh sống động này chính là nguồn vốn vô cùng quý giá về nội lực sung mãn của dân tộc Việt Nam, qua đó, tinh thần đạo đức từ bi, vị tha nhân ái vẫn là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt trong quá trình Phật giáo đồng hành cùng dân tộc trong thế đứng đất nước ngày càng phát triển, ngày càng đổi mới thăng hoa…

Tính nhập thế của đạo Phật ngày nay ngày càng được nâng cao và phát triển vượt bật, trước hết là nhờ sự hỗ trợ tối đa của Nhà nước, nhờ biết ứng dụng hiệu quả các phương tiện thông tin thời đại, thêm vào đó là sự chín mùi của thời cơ, do vậy từ nội dung giáo dục, chất lượng hoằng pháp, đã khiến nền văn hóa Phật giáo và đạo đức luân lý Phật giáo ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống nhân  dân, từ đó có thể nói, Phật giáo thời nay đóng một vai trò hết sức quan trọng, đó là định hướng cho sự phát triển xã hội trên nền tảng phát huy nền văn hóa độc lập đồng thời khơi nguồn đạo đức và tuệ giác trong đời sống.

Nhìn lại một ngàn năm lịch sử sân tộc, chúng ta thấy rằng, thời Lý – Trần, các vị vua đều là những Phật tử thuần thành chứng ngộ Phật pháp, chính vì vậy nên các ngài đã hoàn thành trọng trách quốc gia, đất nước không ngừng phát triển và thạnh trị. Nguyên nhân chính để các vua Lý – Trần hoàn thành sứ mạng của mình là nền tảng đạo đức và trí tuệ, xuất phát từ quá trình tu nhân tích đức, tham thiền học đạo. Đồng thời nguyên nhân sâu xa là sự đóng góp tích cực và hiệu quả của các thiền sư  và toàn thể tín đồ Phật giáo trên nhiều phương diện cuộc sống. Do vậy, để làm tốt vai trò đồng hành cùng dân tộc trên phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ Nghĩa Xã Hội”, đóng góp hiệu quả cho đất nước trong thời đại mới, chúng tôi mạo muội cho rằng, trước hết cán bộ Nhà nước cần phải thực hiện thật tốt lời Bác Hồ dạy là “Cần kiệm – Liêm chính – Chí công - Vô tư” và phải thật sự là nô bộc của dân, biết lắng nghe ý kiến của dân, hết lòng vì nước quên thân, vì dân phục vụ… thì mới có thể hoàn thành tốt vai trò lãnh đạo cũng như phụng sự dân tộc của mình. Kế đến, mỗi cá nhân Tăng Ni Phật tử phải thật sự tinh tấn hành trì, giữ gìn giới luật, đem hết khả năng phụng sự đạo pháp và dân tộc trên tinh thần vô ngã, cộng hưởng sự tích cực giữa chính quyền và Phật giáo thì đất nước Việt Nam sẽ ngày càng thạnh vượng, dân chúng sẽ được hưởng cảnh thái bình ấm no an lạc lâu dài.

Vai trò chính của Phật giáo thời nay là phát huy tối đa tinh thần nhập thế của đạo Phật thông qua hai con đường chính là hoằng pháp và giáo dục. Do vậy muốn nâng cao hiệu quả tinh thần nhập thế của đạo Phật, nhất là trong bối cảnh xã hội đang đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức như hiện nay, thì bản thân ngành hoằng pháp cần phải có một đội ngũ giảng sư có chất lượng, bản thân mỗi Tăng sĩ dù không ở trong ngành hoằng pháp tối thiểu cũng phải có căn bản hành trì một cách nghiêm túc, Tăng sĩ đảm nhiệm công tác hoằng pháp thì đòi hỏi nỗ lực nhiều hơn, để đạt đến trí tuệ giải thoát và đức hạnh vô ngã, có như vậy thì mới không dính mắc vào vòng lợi danh thế sự trong quá trình đồng hành cống hiến cho dân tộc như các vua nhà Lý nhà Trần đã nêu gương, họ là những mẫu người tuyệt vời nhất trong sự nghiệp hoằng pháp độ sanh của Phật giáo nước nhà. Ngoài trình độ Phật pháp ra, người hoằng pháp cần phải tâm huyết với sự nghiệp độ sanh, hội đủ những yếu tố này thì người hoằng pháp mới có thể khơi nguồn tuệ giác trong chốn nhân gian và trồng cây đức sâu chắc trong lòng dân tộc.

Nhân sự kiện 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, thiết nghĩ cũng cần nói thêm ở đây một vấn đề quan trọng nữa, trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo đồng hành cùng dân tộc, chúng tôi tự tin khẳng định rằng, nói đến dân tộc Việt Nam tức là nói đến Phật giáo Việt Nam, và ngược lại, quả thật như vậy, trong quá khứ và ngay trong thời nay, Phật giáo Việt Nam quả là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, trong vai trò chủ đạo, Phật giáo Việt Nam đã kiến lập nên triều đại nhà Lý, đã đưa dân tộc Việt Nam trở thành đất nước Đại Cồ Việt, rồi phát triển vượt bật hơn nữa để trở thành Đại Việt, một quốc gia bất khả chiến bại với bất kỳ đoàn quân xâm lược hùng mạnh nào đi chăng nữa, dù đó là quân Tống, Minh, Thanh hay quân Pháp, Nhật, Mỹ… cũng đều phải cúi đầu khuất phục bởi một dân tộc tràn đầy ý chí quật cường và dạt dào lòng yêu nước. Chính những điều này đã tạo nên một nền văn hóa Việt Nam độc lập ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam. Từ 1000 năm qua, văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa được hòa quyện nhuần nhuyễn giữa văn hóa dân tộc việt Nam và văn hóa Phật giáo Việt Nam, một sự hòa quyện không thể tách rời nhau được. Do yếu tố hòa quyện gắn kết này mà phương châm “Đạo pháp và Dân tộc” chính là tông chỉ nhập thế độ sanh muôn đời của Phật giáo Việt Nam. Trong quá khứ, phương châm “Đạo pháp và Dân tộc” đã được hai triều đại Lý – Trần nâng lên làm quốc sách để phát triển đất nước và đã thành công mỹ mãn, thì thời nay, nhà nước cần đề ra phương án khả thi để dung thông văn hóa Phật giáo với văn hóa dân tộc, hòa quyện tâm từ bi cứu khổ của đạo Phật với đạo đức truyền thống của dân tộc, kết hợp trí tuệ giải thoát vô ngã của đạo Phật với tư tưởng Hồ Chí Minh. Hài hòa tất cả điều này sẽ là một định hướng chuẩn cho sự phát triển để đưa đất nước Việt Nam ngày càng vươn lên tầm cao mới. Bên cạnh việc hỗ trợ tận tình với Phật giáo, thì Nhà nước ta nên ứng dụng nền văn hóa Phật giáo và triết lý Phật giáo vào chiến lước phát triển đất nước như đã nêu một cách kịp thời và toàn diện, nhất là trong thời kỳ đất nước mở cửa hội nhập thị trường thương mại thế giới với nhiều cơ hội và thách thức cũng như thời kỳ mà đất nước ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay.

TT Thích Huệ Thông


Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương
Thống kê
Lượt truy cập: 24427493